MOL và BEOL: tiếp xúc, dây đồng và damascene
MOL và BEOL được xây tiếp lên trên transistor của FEOL
Transistor xong vẫn chưa nối với gì; MOL làm trụ tiếp xúc lên trên, BEOL làm dây đồng nhiều tầng.
FEOL là chặng làm transistor, nằm dưới cùng và được phủ ô xít.
MOL (Middle-Of-Line) làm các trụ tiếp xúc nối transistor lên trên, rồi BEOL (Back-End-Of-Line) làm các tầng dây đồng nối các transistor với nhau.
Xem lời đọc
Phần dưới cùng là FEOL, chặng làm transistor. Làm xong, transistor nằm dưới lớp ô xít và chưa nối với gì cả. Chặng MOL làm các trụ tiếp xúc, nối transistor lên trên. Chặng BEOL làm dây đồng nhiều tầng. Các tầng dây nối những transistor với nhau thành mạch. Cả hai chặng này được xây tiếp lên trên lớp ô xít. Trước hết ta làm tiếp xúc, rồi mới đến dây.
Sau khi thay cổng, một lớp ô xít được phủ thêm lên trên rồi mài phẳng; MOL bắt đầu từ lớp ô xít này. BEOL (back end of line, chặng cuối của dây trong fab) khác back-end là chặng đóng gói và kiểm tra sau fab.
Hình vẽ một transistor thu nhỏ; mũi tên nét đứt ở thẻ BEOL chỉ dây đi sang transistor khác. Trụ tiếp xúc tới cổng nằm ngoài mặt cắt này nên không vẽ. Hình không theo tỉ lệ thật.
Lỗ tiếp xúc xuống nguồn và máng có silicide ở đáy
Lỗ khắc xuyên ô xít xuống nguồn, máng; ở đáy lỗ, kim loại phản ứng với silicon thành silicide nên điện trở tiếp xúc nhỏ.
Contact hole (lỗ tiếp xúc) được khắc xuyên lớp ô xít SiO₂ xuống nguồn và máng.
Ở đáy lỗ, một lớp kim loại mỏng phản ứng với silicon khi nung, tạo silicide (hợp chất kim loại và silicon, dẫn điện tốt) để điện trở tiếp xúc nhỏ đi.
Xem lời đọc
Lớp ô xít phủ kín transistor, nên ta phải mở đường xuống nguồn và máng. Quang khắc và khắc đục hai lỗ xuyên ô xít, dừng ở mặt silicon. Hai lỗ này gọi là lỗ tiếp xúc. Nhưng kim loại chạm thẳng vào silicon thì điện trở khá lớn. Vì vậy đáy lỗ được phủ một lớp kim loại mỏng rồi nung nóng. Kim loại phản ứng với silicon, tạo thành silicide ở đáy lỗ. Silicide dẫn điện tốt, nên điện trở tiếp xúc nhỏ đi.
Kim loại chạm thẳng vào silicon cho điện trở tiếp xúc khá lớn; silicide làm nhỏ điện trở đó. Kim loại phủ lên cả thành lỗ và mặt ô xít; chỉ phần chạm silicon phản ứng, kim loại chưa phản ứng được bóc bỏ bằng chất khắc chọn lọc. Silicide dùng kim loại như niken hoặc titan, tùy công nghệ.
Ở nhiều quy trình FinFET và GAA hiện đại, silicide được tạo ở đáy rãnh tiếp xúc sau khi thay cổng, như hình; quy trình phẳng cũ tạo ngay sau khi có vách cách bên. Hình bỏ giếng, halo, LDD và lớp HfO₂ để gọn; lớp silicide vẽ dày hơn thật; độ sâu và bề rộng lỗ không theo tỉ lệ thật. Lớp ô xít phủ ở đây dùng làm nền cho tiếp xúc và ở lại trong chip.
Trụ tiếp xúc là kim loại lấp vào lỗ rồi mài phẳng
Kim loại lấp đầy hai lỗ rồi CMP mài phần thừa, chỉ còn hai trụ tiếp xúc nối nguồn và máng lên mặt phẳng.
Hai lỗ được lấp đầy kim loại, thường là tungsten (W) hoặc cobalt (Co) ở một số công nghệ.
Kim loại thừa trên mặt ô xít được CMP mài đi, chỉ còn hai trụ tiếp xúc nối nguồn và máng lên mặt phẳng.
Xem lời đọc
Bây giờ ta lấp đầy hai lỗ bằng kim loại. Kim loại thường là tungsten, một số công nghệ dùng cobalt. Kim loại tràn ra cả mặt ô xít phía trên. CMP mài phần thừa cho đến mặt ô xít. Kim loại chỉ còn trong hai lỗ, thành hai trụ tiếp xúc. Mỗi trụ nối một vùng nguồn hoặc máng lên mặt phẳng phía trên. Đến đây MOL đã xong.
Cobalt được GlobalFoundries và IBM nghiên cứu thay tungsten vì không cần lớp lót dày, nên còn nhiều chỗ cho kim loại dẫn điện; ruthenium và một số kim loại khác cũng được đề xuất cho tiếp xúc nhỏ. Tungsten cần lớp lót TiN mỏng; hình gộp lớp lót và kim loại thành một khối.
Lỗ thật cao và hẹp hơn nhiều so với hình. Tiếp xúc tới cổng nằm ngoài mặt cắt này. Dấu ngoặc MOL ở bên phải chỉ vùng ô xít có tiếp xúc, không đúng tỉ lệ; MOL thường được hiểu là chặng làm tiếp xúc nối transistor lên tầng dây đầu.
Đồng khó khắc nên damascene khắc ô xít trước rồi lấp đồng sau
Chất khắc không lấy đi được đồng, nên ta khắc rãnh trong ô xít trước, rồi lấp đồng và mài; mỗi lớp lấp và mài một lần.
Đồng rất khó khắc: ở nhiệt độ xử lý, chất khắc biến đồng thành hợp chất không bay hơi nên cặn bám lại.
Single damascene (damascene đơn) đảo thứ tự: khắc rãnh trong ô xít SiO₂ trước, rồi lấp đồng Cu vào rãnh và mài phần thừa.
Xem lời đọc
Dây đồng cũng cần được tạo hình, nhưng đồng rất khó khắc. Ở nhiệt độ xử lý, chất khắc biến đồng thành hợp chất không bay hơi. Cặn đó bám lại, nên không khắc được thành đường dây. Vì vậy ta đảo thứ tự, khắc ô xít trước. Rãnh khắc trong ô xít đúng hình đường dây. Rồi ta lấp đồng vào rãnh và mài phần thừa. Cách làm này gọi là damascene, mỗi lớp lấp và mài một lần.
Dây nhôm trước đây được khắc trực tiếp từ màng kim loại; IBM đưa dây đồng vào sản xuất năm 1997. Đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng hợp chất đồng không bay hơi nên không khắc được như nhôm. Tên damascene vay từ kỹ thuật khảm kim loại vào nền ở Damascus thời xưa.
Hàng trên chỉ minh họa việc khắc đồng không làm được, nên không vẽ chất cản quang bóc đi hay kết quả sau cùng. Ô xít trong các hình về dây là SiO₂ vẽ đại diện cho lớp điện môi giữa dây. Hình không theo tỉ lệ thật.
Dual damascene khắc via và rãnh rồi lấp đồng một lần
Một tầng dây cần rãnh dây và via nối xuống tầng dưới; damascene kép khắc cả hai trong một lớp ô xít và lấp đồng, mài một lần.
Via là trụ đồng nối dây tầng này xuống dây tầng dưới.
Dual damascene (damascene kép) khắc cả via lẫn rãnh dây trong cùng một lớp ô xít SiO₂, rồi lấp đồng Cu vào cả hai một lần; damascene đơn làm via và dây thành hai lớp, lấp hai lần.
Xem lời đọc
Một tầng dây cần cả đường dây nằm ngang lẫn trụ nối xuống tầng dưới. Trụ nối đó có tên là via. Với damascene đơn, via và dây làm thành hai lớp, lấp đồng hai lần. Với damascene kép, ta khắc cả via lẫn rãnh dây trong cùng một lớp ô xít. Via khắc xuống tới dây tầng dưới, rãnh khắc ở phía trên via. Sau đó đồng lấp vào cả hai chỗ cùng một lần. Vì vậy chỉ cần một lần mài.
Cách khắc kép thường là khắc via rồi khắc rãnh, hoặc ngược lại; hình vẽ khắc via trước. Damascene kép tiết kiệm một lần lấp đồng và một lần CMP, và đồng của via với dây liền một khối.
Hình ở khung cuối vẽ trước kết quả lấp đồng (nét mờ) để so với damascene đơn. Dây tầng dưới ở hình có thể là một tầng dây bất kỳ phía dưới. Via thật hẹp và cao hơn nhiều so với hình; bề rộng và độ cao không theo tỉ lệ thật. Ô xít vẽ đại diện cho lớp điện môi giữa dây.
Rào chắn ngăn đồng khuếch tán, lớp mầm làm nền dẫn điện
Trước khi lấp đồng, thành và đáy via và rãnh được lót lớp rào chắn Ta/TaN ngăn đồng khuếch tán, rồi lớp mầm đồng dẫn điện làm nền.
Barrier layer (lớp rào chắn, Ta/TaN) phủ thành và đáy via và rãnh, ngăn đồng Cu khuếch tán vào ô xít và xuống silicon.
Rào chắn dẫn điện chưa đủ tốt, nên ta phủ thêm seed layer (lớp mầm): một màng đồng mỏng dẫn điện làm nền để lấp đồng.
Xem lời đọc
Đồng dễ khuếch tán qua ô xít và xuống tận silicon. Khi đó đồng làm hỏng cách điện và hỏng cả transistor. Vì vậy ta phủ lên thành và đáy một lớp rào chắn rất mỏng. Lớp này ngăn đồng khuếch tán ra ngoài. Nhưng rào chắn dẫn điện chưa đủ tốt cho việc lấp đồng sau đó. Nên ta phủ thêm một lớp đồng mỏng, gọi là lớp mầm. Lớp mầm dẫn điện tốt, sẽ là nền cho đồng bám vào.
Đồng khuếch tán nhanh qua ô xít và trong silicon, nên đồng lọt ra ngoài rãnh có thể làm hỏng cách điện và làm hỏng transistor. Ta là tantalum, TaN là tantalum nitride; rào chắn thường gồm hai màng mỏng (TaN, Ta). Rào chắn còn phủ cả mặt ô xít và đáy via, nơi nó nằm trên dây tầng dưới; lớp mầm phủ ngay trên rào chắn.
Lúc đầu, các chấm cam mờ trong via và rãnh là đồng sẽ lấp vào. Hình có silicon ở đáy để thấy đồng khuếch tán xuống đâu (đường đi qua ô xít, nét gấp khúc ở mặt silicon không đúng tỉ lệ); thật ra phía dưới tầng này còn nhiều tầng dây khác. Rào chắn và lớp mầm chỉ dày cỡ vài nanô mét đến vài chục nanô mét, vẽ dày hơn thật nhiều.
Mạ điện lấp đầy via và rãnh bằng đồng
Dòng điện kéo ion đồng trong dung dịch bám lên lớp mầm, nên đồng lớn dần từ đáy via lên, lấp đầy via và rãnh rồi phủ dư lên mặt.
Electroplating (mạ điện): tấm silicon nhúng trong dung dịch có ion đồng Cu²⁺, dòng điện kéo ion bám lên lớp mầm và thành đồng Cu.
Đồng lớn dần từ đáy via, lấp đầy via và rãnh, rồi phủ dư lên mặt.
Xem lời đọc
Bây giờ ta nhúng tấm silicon vào dung dịch có ion đồng. Dòng điện kéo các ion đồng tới bám lên lớp mầm. Việc này gọi là mạ điện. Đồng lớn dần từ đáy via lên trên. Đồng lấp đầy via rồi đến rãnh. Nhờ đó khối đồng liền một mạch từ tầng dưới lên rãnh. Ta mạ dư một chút để chắc chắn rãnh đầy. Đồng thừa còn phủ cả mặt phía trên.
Lớp mầm là cực nối với nguồn điện của bể mạ nên ion đồng nhận electron và thành đồng ngay trên nó; lớp rào chắn dẫn điện kém hơn nên cần lớp mầm. Dung dịch mạ có phụ gia để đồng lấp từ đáy lên, tránh bịt miệng trước rồi để lại lỗ rỗng. Mạ dư để chắc chắn mọi via và rãnh đều đầy; phần dư được mài đi.
Chấm cam vòng có dấu cộng là ion Cu²⁺, vẽ minh họa, không theo tỉ lệ số lượng thật. Mũi tên ion chỉ chiều chuyển động, không phải pin hay điện áp. Hình không theo tỉ lệ thật.
CMP mài đồng thừa, chỉ còn đồng trong rãnh và via
CMP mài đồng dư và lớp rào chắn trên mặt đến mặt ô xít, nên các dây tách rời nhau và mặt trên phẳng.
Đồng dư phủ cả mặt ô xít sẽ nối các dây với nhau.
CMP mài đồng dư và cả lớp rào chắn nằm trên mặt ô xít, dừng ở mặt ô xít, nên đồng chỉ còn trong rãnh và via, có rào chắn lót thành và đáy.
Xem lời đọc
Đồng thừa phủ cả mặt ô xít, che kín chỗ nằm ngoài rãnh. Nếu để vậy, các dây sẽ chập vào nhau. CMP mài đồng từ trên xuống. Lớp rào chắn nằm trên mặt ô xít cũng bị mài đi. Việc mài dừng khi mặt ô xít lộ ra. Đồng chỉ còn trong rãnh và via, rào chắn lót thành và đáy. Mặt trên giờ phẳng, sẵn sàng cho lớp kế tiếp.
CMP đồng thường gồm hai lần mài: mài đồng dư, rồi mài lớp rào chắn trên mặt. Hình gộp thành một cảnh vì kết quả chung là đồng chỉ còn trong rãnh và via.
Rãnh phụ bên phải là một dây khác của cùng tầng, không có via; hình vẽ để thấy đồng dư nối hai dây. Đường nét đứt là mặt ô xít sau mài. Hình không theo tỉ lệ thật.
Lớp phủ ngăn bịt mặt đồng rồi quy trình lặp lại cho tầng kế tiếp
Màng điện môi mỏng phủ lên mặt đồng để đồng không khuếch tán lên trên hay bị oxy hóa; sau đó ta xây thêm một tầng dây.
Cap layer (lớp phủ ngăn) là màng điện môi mỏng phủ lên toàn mặt, bịt mặt đồng Cu vừa mài, để đồng không khuếch tán lên trên và không bị oxy hóa.
Sau đó ô xít mới được phủ lên và các việc từ khắc đến mài lặp lại, thêm một tầng dây.
Xem lời đọc
Mặt đồng vừa mài đang để trần. Đồng để trần dễ khuếch tán lên trên và dễ bị oxy hóa. Vì vậy ta phủ lên toàn mặt một lớp điện môi rất mỏng. Lớp này gọi là lớp phủ ngăn. Nó bịt kín mặt đồng của tầng dây này. Rồi ta phủ ô xít mới lên trên và làm lại từ đầu. Mỗi lần lặp lại như vậy, chip có thêm một tầng dây nữa.
Lớp phủ ngăn thường là hợp chất silicon với nitơ, như Si₃N₄ hay SiCN, tùy công nghệ. Ở hình, dây tầng dưới được vẽ không có lớp phủ ngăn để gọn; thật thì dây nào cũng có, và khi khắc via phải khắc xuyên qua lớp phủ ngăn của dây tầng dưới để chạm mặt đồng.
Hộp "tầng kế tiếp" chỉ minh họa việc lặp lại: tầng mới có via và rãnh riêng, khắc xong lại lấp. Lớp phủ ngăn vẽ dày hơn thật. Hình không theo tỉ lệ thật.
Điện môi low-k giảm điện dung giữa các dây
Hai dây cạnh nhau tạo thành tụ điện; điện môi hằng số nhỏ ở giữa làm điện dung giảm, nên tín hiệu ít trễ và chip tốn ít điện.
Low-k (điện môi hằng số nhỏ, k là hằng số điện môi) thay ô xít SiO₂ giữa các dây.
Cùng hình dạng dây, điện dung giữa hai dây tỉ lệ với k, nên k nhỏ làm điện dung giảm, tín hiệu ít trễ.
Xem lời đọc
Hai dây đồng đứng cạnh nhau tạo thành một tụ điện nhỏ. Điện môi ở giữa càng có hằng số lớn thì điện dung càng lớn. Điện dung lớn làm tín hiệu trên dây bị trễ. Ô xít có hằng số điện môi cỡ bốn. Vì vậy ta thay ô xít bằng điện môi low-k, hằng số nhỏ hơn. Cùng hình dạng dây, điện dung giữa hai dây giảm đi. Tín hiệu đi nhanh hơn và chip tốn ít điện hơn. Rào chắn cũng ngăn đồng khuếch tán vào low-k.
Ô xít SiO₂ có k cỡ 4; các loại low-k phổ biến là ô xít pha cacbon (SiCOH) với k cỡ 2,5 đến 3,5. Nhiều loại low-k có cấu trúc xốp hoặc pha cacbon nên giòn hơn SiO₂, một khó khăn khi mài CMP. Trễ tín hiệu trên dây tăng theo tích của điện trở dây với điện dung; công suất để nạp và xả điện dung cũng tăng theo điện dung, nên giảm điện dung vừa tăng tốc vừa tiết kiệm điện.
Đồng được đưa vào sản xuất từ năm 1997, còn low-k vào sản xuất sau đồng nhiều năm. Rào chắn cũng ngăn đồng vào lớp low-k. Hình vẽ đường sức điện đơn giản hóa; số đường sức ở hai hình chỉ để so mật độ, không phải số thật. Hai hình có hai dây giống hệt nhau, chỉ đổi điện môi; rào chắn chỉ hiện lúc cuối để gọn.
Tầng dây dưới mảnh và sát nhau, tầng trên dày và rộng
Tầng dưới có dây mảnh, sát nhau, nối các transistor ở gần; tầng càng cao dây càng dày và rộng, đi xa và mang nguồn điện.
Chip có nhiều tầng dây, cỡ mười đến mười lăm tầng, xếp từ dưới lên.
Tầng dưới có dây mảnh, sát nhau, nối các transistor ở gần; tầng càng cao dây càng dày và rộng, điện trở nhỏ, nên đi xa và mang nguồn điện đi khắp chip.
Xem lời đọc
Chip có nhiều tầng dây, cỡ mười đến mười lăm tầng. Các tầng dây đồng làm theo cách damascene. Các tầng dưới có dây mảnh, đặt sát nhau. Chúng nối những transistor ở gần nhau. Càng lên cao, dây càng dày và rộng. Dây to có điện trở nhỏ, nên hợp để đi xa. Các tầng trên cùng còn mang nguồn điện đi khắp chip. Vì vậy mỗi tầng có kích thước hợp với việc của nó.
Số tầng tùy chip; hình vẽ sáu tầng cho gọn. Có nguồn nêu tối đa cỡ mười lăm tầng cho chip logic tiên tiến, trong đó các tầng dưới (tầng cục bộ) có bước dây rất nhỏ, cỡ vài chục nanô mét ở các tầng quan trọng nhất.
Dây dày và rộng có tiết diện lớn nên điện trở nhỏ, hợp để đi xa và dẫn dòng điện lớn của nguồn. Thêm tầng dây giúp nối dễ hơn nhưng làm quy trình dài hơn và tốn kém hơn. Hai đường vàng chỉ để so độ dài đường nối gần và đường nối xa. Hình không theo tỉ lệ thật.
Cấp nguồn mặt sau chuyển dây nguồn xuống mặt dưới tấm silicon
Dây nguồn chuyển từ mặt trên xuống mặt dưới tấm silicon, nên mặt trên bớt chật và đường điện nguồn tới transistor ngắn hơn.
Backside power delivery (cấp nguồn mặt sau) chuyển dây nguồn xuống mặt dưới tấm silicon, nối lên transistor bằng các trụ xuyên qua silicon.
Mặt trên chỉ còn dây tín hiệu, nên bớt chật, và đường điện nguồn tới transistor ngắn hơn.
Xem lời đọc
Dây nguồn đi qua nhiều tầng mới tới được transistor. Chúng chen chung chỗ với dây tín hiệu ở mặt trên. Vì vậy mặt trên của chip rất chật chội. Một số chip tiên tiến chuyển dây nguồn xuống mặt sau của tấm silicon. Từ đó các trụ nhỏ xuyên qua silicon nối lên transistor. Mặt trên chỉ còn dây tín hiệu, nên bớt chật hơn. Đường đi của điện nguồn tới transistor cũng ngắn hơn.
Mặt sau ở đây là mặt dưới của tấm silicon, khác với back-end là chặng đóng gói và kiểm tra sau fab. Intel gọi cách này là PowerVia, dùng cho nút Intel 18A; TSMC gọi là Super Power Rail, dự kiến cho nút A16 và nối dây nguồn tới nguồn và máng của transistor bằng tiếp xúc riêng. Hai hãng làm khác nhau ở chỗ nối dây nguồn lên transistor; hình vẽ một trụ xuyên silicon cho đơn giản.
Thời điểm sản xuất hàng loạt chưa nêu vì nguồn chưa thống nhất. Hình chỉ vẽ một dây nguồn và một đường tín hiệu nối vào transistor để so; đường nét đứt là chỗ dây nguồn từng nằm. Hình không theo tỉ lệ thật.
Số liệu
- Loại số liệu: bảng tọa độ minh họa của hai mặt cắt và sự kiện công bố; không có số đo hay mô phỏng; mọi hình vẽ không theo tỉ lệ thật (bề dày màng, độ cao via, bề rộng dây, số tầng dây, độ sâu lỗ tiếp xúc).
- Đồng khó khắc và damascene: Đồng khó khắc bằng plasma vì hợp chất đồng ít bay hơi hơn nhôm, cặn bám lại; damascene khắc rãnh trong điện môi rồi lấp đồng và mài CMP: RF Essentials, https://rfessentials.com/resources/rf-glossary/damascene/ ; chemeurope, https://www.chemeurope.com/en/encyclopedia/Copper-based_chips.html ; sáng chế USPTO 6664197, https://image-ppubs.uspto.gov/dirsearch-public/print/downloadPdf/6664197 (mức cao, nói định tính).
- Rào chắn, lớp mầm, mạ điện, damascene kép: Rào chắn thường là Ta, TaN, TiN; lớp mầm đồng phủ bằng lắng đọng; mạ điện là cách phủ đồng; dual damascene khắc via và rãnh rồi lấp và mài một lần: halbleiter.org, https://halbleiter.org/en/metallization/copper-technology/ ; RF Essentials; UMD, https://ece.umd.edu/class/enee416/GroupActivities/Damascene%20Presentation.pdf (mức cao; bề dày chỉ nói "mỏng").
- Dây đồng thay dây nhôm: IBM đưa dây đồng vào sản xuất năm 1997; low-k vào sản xuất sau đồng nhiều năm: IBM History, https://www.ibm.com/history/copper-interconnects ; IBM Research, https://researcher.ibm.com/publications/pecvd-low-and-ultralow-dielectric-constant-materials-from-invention-and-research-to-products (mức cao cho năm 1997).
- Điện môi low-k: SiO₂ có hằng số điện môi cỡ 4; SiCOH có k từ khoảng 2,5 đến 3,5; hằng số điện môi nhỏ giảm điện dung và trễ RC: sáng chế USPTO 6410462, https://image-ppubs.uspto.gov/dirsearch-public/print/downloadPdf/6410462 (mức cao).
- Kim loại tiếp xúc: Tungsten cần lớp lót TiN làm chật chỗ; cobalt (GlobalFoundries, IBM) bỏ lớp mầm nucleation nên còn nhiều chỗ cho kim loại; ruthenium, rhodium, molybdenum được đề xuất cho tiếp xúc nhỏ; silicide ở đáy rãnh tiếp xúc: sáng chế US 9960240, https://image-ppubs.uspto.gov/dirsearch-public/print/downloadPdf/9960240 ; SemiEngineering, https://semiengineering.com/next-device-challenge-contact-resistance (mức trung bình đến cao; bài chỉ nói "thường tungsten, một số công nghệ dùng cobalt").
- Số tầng dây: Tổng số tầng dây có thể tới cỡ 15; tầng dưới mảnh sát nhau, tầng trên dày và xa nhau, mang nguồn và phân phối: imec, https://imec-int.com/en/articles/view-logic-technology-roadmap ; RPI, https://sites.ecse.rpi.edu/ieee/pptx/BEOL&Packaging.pdf (mức cao cho "cỡ mười đến mười lăm").
- Cấp nguồn mặt sau: Intel PowerVia (nút Intel 18A) đưa dây nguồn xuống mặt sau bằng nano-TSV; TSMC Super Power Rail (A16) nối dây nguồn mặt sau tới nguồn và máng bằng tiếp xúc riêng: Wikipedia, https://en.wikipedia.org/wiki/Backside_power_delivery ; SemiEngineering, https://semiengineering.com/tsmc-uncorks-a16-with-super-power-rail ; TrendForce, https://www.trendforce.com/news/?p=64200 (mức cao cho tên và ý tưởng; không nêu năm sản xuất).
- Kiến thức chuẩn: Silicide giảm điện trở tiếp xúc; lớp phủ ngăn (SiN, SiCN) chống đồng khuếch tán và oxy hóa; ion Cu²⁺ được khử thành Cu ở cực âm; CMP đồng gồm hai lần mài: kiến thức chuẩn của giáo trình (Plummer) và tài liệu nội bộ B7; không tra web.
- Giới hạn: bề dày rào chắn, lớp mầm, silicide, lớp phủ ngăn chỉ nói "mỏng" và vẽ dày hơn thật; không nêu bề rộng via và dây, số tầng 15 đến 17, dây nhôm lớp trên cùng, năm sản xuất PowerVia hay A16, phần trăm cải thiện của PowerVia; hình mặt cắt vẽ ô xít SiO₂ đại diện cho lớp điện môi giữa dây.