FEOL: làm transistor từ ô silicon đến cổng thật
FEOL làm transistor ở tầng dưới cùng của chip
FEOL là chặng làm transistor, nằm dưới cùng, gồm bốn nhóm nối tiếp nhau.
FEOL (Front-End-Of-Line) là chặng làm transistor, nằm ở tầng dưới cùng của chip; phía trên là MOL và BEOL, hai chặng làm tiếp xúc và dây nối.
Chặng này gồm bốn nhóm nối tiếp nhau: chuẩn bị ô (vùng silicon của một transistor), cổng giả, nguồn và máng, cổng thật.
Xem lời đọc
Transistor nằm ở tầng dưới cùng của chip. Chặng làm ra chúng gọi là FEOL. Phía trên là MOL và BEOL, nơi làm dây nối. FEOL gồm bốn nhóm nối tiếp nhau. Nhóm đầu chuẩn bị ô, tức vùng silicon dành cho từng transistor. Nhóm hai dựng cổng giả để giữ chỗ cho cổng thật. Nhóm ba tạo nguồn và máng hai bên cổng. Nhóm bốn thay cổng giả bằng cổng thật.
Mỗi nhóm của FEOL ghép nhiều công đoạn (cấy ion, lắng đọng, khắc, mài…) và mỗi nhóm đổi mặt cắt rõ rệt.
Cả bốn thẻ là nhóm công đoạn của transistor phẳng; mặt cắt thu nhỏ trong thẻ không theo tỉ lệ thật. Bốn nhóm vẫn là khung chung của chip tiên tiến, nhưng chi tiết đổi: tạo vây, epi nguồn và máng, thêm inner spacer và khắc SiGe.
STI khoanh từng ô silicon bằng rãnh ô xít
Rãnh khắc quanh ô được lấp ô xít rồi mài phẳng, nên các ô cách điện với nhau.
Shallow trench isolation, STI (cách ly bằng rãnh nông) khắc rãnh quanh mỗi ô, tức vùng silicon dành cho một transistor, lấp ô xít SiO₂ rồi mài phẳng, dừng ở lớp che silicon nitride (silic nitrua, Si₃N₄).
Nhờ vậy các ô silicon cách điện với nhau theo chiều ngang.
Xem lời đọc
Trong nhóm một, mỗi transistor cần một ô silicon riêng, cách điện với các ô bên cạnh. Nhờ quang khắc, lớp che nitride chỉ còn ở những chỗ giữ lại làm ô. Rồi khắc rãnh xuống silicon ở những chỗ còn trống, quanh mỗi ô. Ta lấp đầy rãnh bằng ô xít, và ô xít phủ tràn lên cả lớp che. CMP mài phần ô xít thừa cho đến đỉnh lớp che. Mặt phẳng còn lại có ô xít nằm trong rãnh, bao quanh các ô silicon. Vì thế STI làm các ô cách điện với nhau.
Lớp che được tạo hình bằng quang khắc. Quy trình thật có thêm lớp ô xít đệm mỏng dưới lớp che và lớp ô xít lót thành rãnh; sau khi mài, lớp che được bóc đi. Rãnh gọi là nông vì nông hơn nhiều so với rãnh sâu dùng ở một số loại chip khác.
Hình vẽ rãnh nông hơn nhiều so với bề rộng ô; độ sâu rãnh, bề dày lớp che và mức mài không theo tỉ lệ thật. Hình chỉ vẽ hai nửa rãnh ở hai biên của một ô.
Giếng p là vùng pha tạp sâu làm nền cho NMOS
Cấy ion boron năng lượng lớn tạo giếng p dưới các ô, nơi transistor NMOS nằm.
Well (giếng) là vùng pha tạp sâu, tạo bằng cấy ion qua cả vùng chứa transistor.
Transistor NMOS nằm trong giếng p, tạo bằng ion boron.
Xem lời đọc
Transistor NMOS thường được đặt trong một giếng p. Giếng là vùng pha tạp loại p nằm sâu trong silicon. Ta bắn ion boron xuống vùng dành cho transistor NMOS. Năng lượng đủ lớn nên ion đi sâu hơn đáy của rãnh ô xít. Ion dừng lại sâu bên dưới mặt silicon. Sau khi cấy, vùng sâu này mang tạp chất boron, tức là loại p. Vậy giếng p là nền của transistor NMOS.
PMOS nằm trong giếng n (cấy phốt pho hoặc arsenic), làm ở vùng khác của tấm silicon nhờ mặt nạ che; hình chỉ vẽ ô NMOS. Giếng nằm sâu hơn đáy rãnh STI. Quy trình thật còn cấy thêm một lớp mỏng sát mặt silicon để chỉnh điện áp ngưỡng.
Lớp che Si₃N₄ đã được bóc trước khi cấy. Độ sâu và vị trí chấm tạp chất vẽ minh họa, không theo tỉ lệ thật; chấm chỉ vẽ ở vùng đậm nhất của phân bố.
Cổng giả là thanh polysilicon đặt trên lớp ô xít mỏng
Thanh polysilicon trên ô xít mỏng giữ đúng chỗ của cổng; chiều dài thanh quyết định chiều dài cổng, gần bằng chiều dài kênh.
Dummy gate (cổng giả) là thanh polysilicon (silicon đa tinh thể, poly-Si) đặt trên lớp ô xít SiO₂ mỏng, đúng chỗ cổng thật sẽ nằm.
Tạo hình thanh là một trong những lần quang khắc đòi hỏi độ chính xác cao, vì chiều dài thanh quyết định chiều dài cổng, gần bằng chiều dài kênh.
Xem lời đọc
Nhóm hai dựng cổng giả ở đúng chỗ cổng sẽ nằm. Trước hết mọc một lớp ô xít rất mỏng lên mặt silicon. Rồi phủ lên trên một lớp polysilicon. Quang khắc và khắc cắt lớp này thành một thanh hẹp. Thanh đó là cổng giả. Chiều dài cổng giả gần bằng chiều dài kênh sau này. Vì vậy đây là một trong những lần quang khắc đòi hỏi độ chính xác cao.
Lớp ô xít mỏng dưới cổng giả cũng chỉ là tạm. Polysilicon chịu được nhiệt độ rất cao của các công đoạn sau; đó là một lý do dùng nó làm cổng giả (còn có lý do là cổng giả giúp các vùng cấy tự căn theo cổng và bóc được chọn lọc sau này).
Khung nét đứt chỉ đánh dấu chỗ kênh sẽ hình thành khi có điện áp ở cổng; kênh dẫn chưa vẽ vì hình không có điện áp. Hình vẽ lớp ô xít dày hơn thật nhiều, và bề rộng thanh không theo tỉ lệ thật so với ô.
LDD và halo là hai lớp cấy nhẹ sát mép cổng
Cổng giả làm mặt nạ nên hai lớp cấy nông bắt đầu đúng mép cổng.
Lightly doped drain, LDD (máng pha tạp nhẹ) là lớp n nông, pha tạp nhẹ, giảm điện trường ở vùng sát mép cổng; halo là vùng boron cấy nghiêng, nằm sát hai mép dưới cổng, giúp chống xuyên thấu (nguồn và máng thông nhau ngay dưới cổng).
Cả hai dùng cổng giả làm mặt nạ nên bắt đầu đúng mép cổng.
Xem lời đọc
Vào nhóm ba, cổng giả đã có nên ta dùng nó làm mặt nạ. Ion rơi trúng cổng thì bị chặn lại. Ion rơi ra ngoài thì đi vào silicon, bắt đầu đúng từ mép cổng. Lần cấy thẳng đứng và nông tạo LDD, vùng pha tạp loại n nhẹ. LDD giảm điện trường ở vùng sát mép cổng. Lần cấy nghiêng tạo halo, vùng boron nằm sát hai mép dưới cổng. Halo giúp chống xuyên thấu bên dưới cổng.
Vì cổng giả đóng vai mặt nạ, vùng cấy tự căn theo mép cổng và không cần thêm quang khắc. Hai lần cấy này làm khi chưa có vách cách bên. Liều và năng lượng tùy công nghệ, không nêu số. Halo cấy nghiêng nên vùng cấy lấn vào dưới mép cổng; hình vẽ độ lấn lớn hơn thật.
Ở NMOS lớp LDD là loại n và halo là loại p. Tên LDD có từ phía máng; phía nguồn cũng cấy vì cấu trúc đối xứng. Quy trình thật thường có thêm một vách lệch rất mỏng trước lớp LDD (hình bỏ qua). Ở chip hiện đại, LDD chủ yếu để chống hiệu ứng kênh ngắn.
Vách cách bên tạo bằng lắng đọng đều rồi khắc dị hướng
Phủ đều lớp Si₃N₄ rồi khắc thẳng đứng, chỉ còn hai vách dựng đứng ở hai bên cổng.
Spacer (vách cách bên) là hai vách Si₃N₄ dựng đứng ở hai bên cổng giả.
Ta phủ đều một lớp Si₃N₄, rồi anisotropic etch (khắc dị hướng) bóc phần nằm ngang và chừa phần dựng đứng.
Xem lời đọc
Hai bên cổng giả cần có vách cách bên. Trước hết ta lắng đọng một lớp nitride phủ đều khắp bề mặt. Lớp này bám đều trên mặt silicon, trên đỉnh và hai bên cổng. Sau đó ta khắc theo phương thẳng đứng, gọi là khắc dị hướng. Phần nằm ngang bị bóc đi, vì chất khắc tác dụng chủ yếu từ trên xuống. Phần dựng đứng ở thành cổng còn lại, vì nó dày hơn theo hướng khắc. Hai phần còn lại chính là vách cách bên. Bề rộng vách xấp xỉ độ dày lớp nitride.
Khắc dị hướng khắc chủ yếu theo phương thẳng đứng, nên lớp ở mặt ngang bị bóc hết còn lớp ở thành đứng của cổng, dày hơn theo phương khắc, còn lại. Không cần mặt nạ hay quang khắc.
Hình vẽ vách là hình chữ nhật; vách thật có mặt ngoài cong. Bề rộng vách xấp xỉ độ dày lớp phủ, cỡ vài nanô mét đến vài chục nanô mét tùy công nghệ; vẽ không theo tỉ lệ thật.
Nguồn và máng được cấy sâu rồi ủ để kích hoạt tạp chất
Cổng giả và vách che ion nên vùng cấy sâu lùi xa mép cổng; ủ làm mạng lành lại và kích hoạt tạp chất.
Cổng giả và vách cách bên cùng che ion, nên lớp cấy sâu liều lớn nằm cách mép cổng một đoạn bằng bề rộng vách.
Activation anneal (ủ kích hoạt) ở nhiệt độ rất cao làm mạng tinh thể lành lại và đưa tạp chất vào đúng nút của mạng silicon để chúng cho electron hoặc lỗ trống.
Xem lời đọc
Bây giờ ta cấy ion tạp chất loại n với liều lớn. Ion rơi trúng cổng giả hoặc vách cách bên thì bị chặn lại. Ion rơi ra ngoài vách thì vào silicon, tạo nguồn và máng. Nhờ vách cách bên, vùng cấy sâu bắt đầu xa mép cổng hơn lớp LDD. Nhưng sau khi cấy, mạng tinh thể bị xô lệch và tạp chất chưa vào đúng chỗ. Vì vậy ta ủ ở nhiệt độ rất cao. Mạng lành lại và tạp chất được kích hoạt. Đến đây nguồn và máng đã hoàn chỉnh.
Ủ cỡ 1000 °C trong vài giây hoặc ngắn hơn (số cỡ, tùy công nghệ). Liều của lớp cấy sâu lớn hơn nhiều so với lớp LDD, và vùng n⁺ sâu hơn LDD. Khoảng cách từ mép vùng cấy sâu tới mép cổng bằng bề rộng vách. Khi ủ, tạp chất khuếch tán nên mép vùng n⁺ dịch vào dưới vách một đoạn ngắn (hình vẽ dịch 4 đơn vị vẽ). Chip tiên tiến dùng ủ rất ngắn để tạp chất ít khuếch tán.
Nhiều công nghệ thay lớp cấy sâu này bằng cách khắc lõm vùng nguồn và máng rồi mọc tinh thể epi: SiGe ở PMOS tạo ứng suất nén lên kênh, Si:P thường dùng ở NMOS. Độ sâu và liều vẽ minh họa, không theo tỉ lệ thật.
Cổng thật thường làm sau vì kim loại cổng không chịu được cú ủ
Cú ủ cỡ 1000 °C làm lệch công thoát của kim loại và dày thêm lớp ô xít của cổng thật; polysilicon không đổi, nên nhiều hãng làm cổng thật sau.
Cổng thật gồm lớp high-k (điện môi hằng số lớn) như hafnium oxide (ô xít hafni, HfO₂) và kim loại chỉnh work function (công thoát: năng lượng lấy một electron ra khỏi kim loại).
Cú ủ cỡ 1000 °C làm lệch công thoát và dày thêm lớp ô xít, nên nhiều hãng chọn làm cổng thật sau cú ủ.
Xem lời đọc
Nhóm bốn làm cổng thật, gồm lớp điện môi high-k và lớp kim loại. Giả sử ta làm cổng thật từ sớm, rồi mới ủ ở nhiệt độ rất cao. Cú ủ cỡ một nghìn độ gây phản ứng ở các mặt tiếp giáp của cổng thật. Công thoát của kim loại bị lệch, nên điện áp ngưỡng cũng lệch theo. Lớp ô xít mỏng sát silicon cũng dày thêm, nên cổng tác động lên silicon yếu đi. Cổng giả bằng polysilicon thì không đổi sau cú ủ. Vì vậy nhiều hãng làm cổng giả trước, rồi chỉ thay cổng thật vào sau cùng.
Công thoát quyết định điện áp ngưỡng, nên công thoát lệch làm điện áp ngưỡng lệch. Hằng số điện môi lớn cho phép lớp cách điện dày hơn mà vẫn đủ điện dung, nên dòng rò qua cổng nhỏ hơn. Ô xít mỏng sát silicon dày thêm làm lớp cách điện tương đương dày hơn, gọi là EOT (equivalent oxide thickness: bề dày SiO₂ cho cùng điện dung), nên cổng tác động lên silicon yếu đi.
Kiểu thay cổng sau cú ủ gọi là gate-last hay replacement metal gate. Có hai biến thể: high-k first, metal gate last (HfO₂ đặt trước, chỉ kim loại thay sau) và high-k last (cả HfO₂ làm sau, như khi thay cổng giả bằng cổng thật). Intel dùng cách thay kim loại cổng sau cú ủ từ nút 45 nm với lớp HfO₂ đặt trước (EOT cỡ 1 nm, độ dày thật cỡ 2 nm).
Hình vẽ cả HfO₂ chịu cú ủ nên gần với trường hợp gate-first; gate-first vẫn tồn tại ở một số công nghệ, với vật liệu được chọn để chịu nhiệt, nên hình mô tả vấn đề chung, không phải một công nghệ cụ thể. Con số 1000 °C là cỡ: tài liệu ghi từ cỡ 900 đến cỡ 1100 °C tùy công nghệ. Hình minh họa định tính; các lớp vẽ dày hơn thật.
Lấp ô xít rồi mài phẳng để lộ đỉnh cổng giả
Ô xít phủ kín cổng giả được mài đến đỉnh cổng giả, chuẩn bị bỏ cổng giả.
Ô xít SiO₂ được lắng đọng phủ kín cổng giả, rồi CMP (đánh bóng hóa – cơ) mài phẳng đến khi lộ đỉnh cổng giả.
Nhờ đỉnh lộ ra, chất khắc bỏ được cổng giả mà không cần quang khắc.
Xem lời đọc
Cổng giả và vách cách bên vẫn nhô lên khỏi mặt silicon. Ta lắng đọng ô xít, phủ kín tất cả, kể cả đỉnh cổng giả. Sau đó CMP mài lớp ô xít từ trên xuống. Việc mài dừng đúng khi đỉnh cổng giả lộ ra. Mặt phẳng lúc này gồm ô xít, vách cách bên và đỉnh cổng giả. Nhờ đỉnh lộ ra, chất khắc có thể vào để bỏ cổng giả. Ô xít bao quanh giữ nguyên nguồn, máng và vách khi ta khắc cổng giả.
Lớp ô xít này ở lại trong chip, nằm giữa transistor và các lớp phía trên. Mức mài dừng đúng đỉnh cổng giả; đỉnh vách cách bên cũng lộ ở cùng mức. Quy trình thật thường có một lớp lót Si₃N₄ mỏng trước khi phủ ô xít; hình bỏ qua. Ô xít phủ vẽ dày hơn thật.
Cổng giả được thay bằng cổng thật gồm lớp high-k và kim loại
Rãnh còn lại sau khi bỏ cổng giả được phủ lớp HfO₂ rồi lấp kim loại, thành cổng thật.
Chất khắc chọn lọc bỏ polysilicon và ô xít mỏng, để lại một rãnh giữa hai vách cách bên.
Rãnh được phủ ô xít mỏng và HfO₂, lấp kim loại cổng rồi mài phẳng bằng CMP.
Xem lời đọc
Bây giờ ta khắc bỏ cổng giả qua phần đỉnh đã lộ. Chất khắc gần như chỉ ăn polysilicon, ít ăn ô xít xung quanh. Còn lại một rãnh trống giữa hai vách cách bên. Ta mọc lại lớp ô xít mỏng, rồi phủ lớp high-k rất mỏng là hafnium oxide. Rồi ta lấp kim loại cổng, chọn để đặt đúng điện áp ngưỡng. CMP mài bỏ phần kim loại và lớp high-k nằm ngoài rãnh. Cổng thật nay nằm đúng chỗ của cổng giả.
Kim loại cổng thật gồm nhiều lớp, như TiN chỉnh công thoát và W lấp đầy rãnh; hình gộp thành một khối. Lớp ô xít mỏng sát silicon mọc lại trước khi phủ HfO₂; công nghệ khác nhau có thể giữ hoặc thay lớp này. Lớp HfO₂ và kim loại cũng trải lên mặt ô xít và bị CMP mài đi, chỉ còn trong rãnh. HfO₂ thật dày cỡ 2 nm; hình vẽ dày hơn thật nhiều.
Lớp silicide (hợp chất kim loại và silicon, dẫn điện tốt) ở nguồn và máng, và tiếp xúc kim loại, thuộc MOL; ở nhiều quy trình FinFET và GAA hiện đại, silicide được tạo sau khi thay cổng, ở đáy rãnh tiếp xúc, còn ở quy trình phẳng cũ nó được tạo ngay sau khi có vách cách bên. Sau khi thay cổng, nguồn, máng và cổng vẫn chưa có dây nối; transistor đã hoàn chỉnh về cấu trúc.
FinFET và GAA cho cổng bao kênh nhiều mặt hơn transistor phẳng
Cắt ngang chỗ có cổng: cổng chạm silicon một mặt ở transistor phẳng, ba mặt ở FinFET, bốn mặt mỗi nanosheet ở GAA.
FinFET (transistor vây) dựng kênh thành một vây silicon đứng, cổng bao ba mặt.
Gate-all-around, GAA (cổng bao quanh) xếp nhiều nanosheet (lá silicon mỏng) chồng nhau, cổng bao cả bốn mặt của mỗi nanosheet.
Xem lời đọc
Ta cắt vuông góc với chiều dòng điện, ngay chỗ có cổng. Ở transistor phẳng, cổng chỉ chạm silicon ở một mặt trên. FinFET dựng silicon thành một vây đứng, hẹp và cao. Cổng phủ lên đỉnh và hai bên vây, nên chạm ba mặt. GAA xếp silicon thành nhiều nanosheet nằm chồng lên nhau. Cổng chui vào khe giữa các nanosheet và bao quanh cả bốn mặt của mỗi nanosheet. Cổng bao càng nhiều mặt thì điều khiển silicon càng chặt. Vì vậy các transistor tiên tiến chuyển từ phẳng sang vây, rồi sang bao quanh.
Hình cắt vuông góc với chiều dòng điện, tại chỗ có cổng; ba hình không theo tỉ lệ thật (vây thật cao và hẹp hơn nhiều). Cổng bao nhiều mặt thì điều khiển silicon chặt hơn, nên dòng rò khi tắt giảm.
Intel công bố transistor vây ở nút 22 nm năm 2011 (tên Tri-Gate); Samsung sản xuất GAA nút 3 nm từ giữa năm 2022 (tên MBCFET); TSMC đưa nút N2 dùng nanosheet vào sản xuất hàng loạt từ quý bốn năm 2025. Nanosheet là tên chung; mỗi hãng gọi một tên riêng. Hình vẽ ba nanosheet; số lá tùy thiết kế.
Quy trình FinFET bắt đầu bằng khắc vây silicon; quy trình GAA mọc chồng xen kẽ Si và SiGe rồi khắc thành vây nhiều lớp (không phải cột).
Inner spacer cách ly cổng khỏi nguồn và máng trong GAA
Giữa các nanosheet, vách điện môi ở hai đầu mỗi khe giữ cổng cách xa nguồn và máng.
Inner spacer (vách cách bên trong) là điện môi lấp ở hai đầu mỗi khe giữa các nanosheet.
Lớp silicon germanium (silic gecmani, SiGe) xen kẽ giữa các nanosheet bị khắc bỏ để cổng chui vào khe, còn inner spacer giữ cổng cách xa nguồn và máng.
Xem lời đọc
Ta cắt dọc theo chiều dòng điện, đi qua giữa cổng. Nhiều nanosheet silicon xếp chồng, xen kẽ với các lớp SiGe. Lớp SiGe được khắc lõm ngang một chút ở hai đầu. Chỗ lõm được lấp điện môi, tạo thành vách cách bên trong. Sau đó nguồn và máng mọc ra từ đầu các nanosheet. Khi bỏ cổng giả, lớp SiGe được khắc bỏ, để lại khe trống giữa các nanosheet. Cổng thật chui vào các khe và bao quanh từng nanosheet. Vách cách bên trong ở hai đầu khe giữ cổng cách xa nguồn và máng.
Cắt dọc theo chiều dòng điện, qua tâm cổng. Ban đầu ta mọc chồng xen kẽ lớp silicon và lớp SiGe rồi khắc thành vây nhiều lớp (không phải cột). Sau khi bỏ cổng giả, SiGe được khắc chọn lọc để giải phóng các nanosheet, rồi mới phủ HfO₂ và kim loại cổng. Trước đó, SiGe được khắc lõm ngang một chút ở hai đầu khe, rồi lấp điện môi thành inner spacer, và sau đó mới mọc epi nguồn và máng.
Inner spacer xác định chiều dài cổng hiệu dụng và cách ly cổng khỏi nguồn, máng; nó cũng giảm điện dung ký sinh giữa cổng và nguồn, máng, và bảo vệ epi khỏi chất khắc SiGe khi giải phóng các nanosheet. Hình vẽ ba nanosheet; vách cách bên ngoài chỉ vẽ nét đứt, ô xít bao quanh không vẽ, các lớp dày hơn thật.
Số liệu
- Loại số liệu: bảng tọa độ minh họa của mặt cắt và sự kiện công bố; không có số đo hay mô phỏng; mọi hình vẽ không theo tỉ lệ thật (độ sâu rãnh, bề dày màng, bề rộng cổng, độ sâu vùng cấy, số nanosheet).
- Quy trình thay cổng (gate-last): Quy trình gate-last (cổng giả bằng polysilicon, cấy nguồn máng và ủ khi còn cổng giả, rồi khắc bỏ và lấp high-k cùng kim loại): sáng chế USPTO, https://image-ppubs.uspto.gov/dirsearch-public/print/downloadPdf/8541296.
- Ủ kích hoạt và công thoát: Ủ kích hoạt nguồn máng cỡ 900 đến 1100 độ C có thể làm hại công thoát kim loại và điều khiển điện áp ngưỡng: sáng chế "Method to improve reliability of replacement gate device", https://image-ppubs.uspto.gov/dirsearch-public/print/downloadPdf/8999831; PatSnap, https://www.patsnap.com/resources/blog/articles/gate-first-vs-gate-last-high-k-metal-gate-integration/ (nguồn thứ cấp, nên chỉ dùng "cỡ 1000 độ C").
- Bề dày ô xít tương đương (EOT): Lớp ô xít sát silicon dày thêm khi ủ làm EOT tăng: mức trung bình theo giáo trình chuẩn ngành, chỉ nói định tính, không nêu số.
- Intel 45 nm: Intel 45 nm: high-k first, metal gate last (HfO₂ đặt trước, chỉ kim loại thay sau), HfO₂ có EOT cỡ 1 nm: EDN, https://www.edn.com/?p=4005680; newelectronics; realworldtech; mức cao cho gate-last với HfO₂ làm trước.
- Bề dày HfO₂: HfO₂ dày thật cỡ 18 đến 20 angstrom (ALD), tức cỡ 2 nm: https://sst.semiconductor-digest.com/issue/?id=16222 (mức trung bình).
- Transistor vây của Intel: Intel công bố transistor Tri-Gate (vây) nút 22 nm ngày 4 tháng 5 năm 2011: https://www.intc.com/news-events/press-releases/detail/655/intel-reinvents-transistors-using-new-3-d-structure.
- GAA của Samsung: Samsung sản xuất nút 3 nm dùng GAA (MBCFET) từ giữa năm 2022: AnandTech, https://at-web1.www.anandtech.com/show/17474/samsung-starts-3nm-production-the-gaafet-era-begins.
- GAA của TSMC: TSMC N2 dùng nanosheet, sản xuất hàng loạt từ quý bốn năm 2025: Tom's Hardware, https://tomshardware.com/tech-industry/semiconductors/tsmc-begins-quietly-volume-production-of-2nm-class-chips-first-gaa-transistor-for-tsmc-claims-up-to-15-percent-improvement-at-iso-power; TechSpot, https://www.techspot.com/news/110755-tsmc-2nm-n2-process-officially-enters-volume-production.html.
- Epi nguồn và máng: Epi SiGe ở nguồn máng PMOS tạo ứng suất nén, Intel dùng từ nút 90 nm: EETimes, https://www.eetimes.com/?p=1217259; Intel, https://intel.com/pressroom/kits/advancedtech/doodle/ref_strain/strain.htm; Si:P ở NMOS: Plummer (mức trung bình, nói "thường dùng").
- Inner spacer: Inner spacer xác định chiều dài cổng hiệu dụng và cách ly cổng khỏi nguồn máng; SiGe khắc chọn lọc để giải phóng nanosheet: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC12844779/; IBM Research.
- Silicide: Silicide làm sau khi thay cổng ở nhiều quy trình FinFET và GAA hiện đại, làm trước ở quy trình phẳng cũ: tài liệu nội bộ B6 (mức trung bình đến cao).
- Kiến thức chuẩn: STI, giếng, cổng giả, LDD, halo, khắc dị hướng chừa vách, ủ kích hoạt, lấp ô xít và CMP: kiến thức chuẩn của giáo trình (Plummer) và tài liệu nội bộ B6; không tra web.
- Giới hạn: nhiệt độ ủ 900 đến 1100 độ C là khoảng, tùy công nghệ; độ sâu STI, bề rộng cổng và bề rộng vách chỉ nói cỡ vài đến vài chục nm; số nanosheet của từng hãng không nêu; nhiều công nghệ thay lớp cấy sâu bằng epi (không vẽ); hình cảnh 8 vẽ biến thể high-k last nên khác Intel 45 nm (high-k first).