Dòng dưới ngưỡng và trạng thái tắt của MOSFET

Hạ điện áp cổng qua ngưỡng, dòng máng không biến mất đột ngột

Hạ VG xuống dưới Vt, dòng máng giảm dần chứ không về không: subthreshold current (dòng dưới ngưỡng) còn 1,8 pA/µm ở VG = 0, dù kim ampe kế thang µA đã nằm ở 0.

Giữ VD = 0,05 V và hạ VG từ 0,6 V xuống 0: dòng đi từ 4,9 µA/µm qua 0,56 µA/µm tại Vt = 0,47 V, rồi 97 nA/µm, 0,41 nA/µm và 1,8 pA/µm (tính trên mỗi µm bề rộng cổng).

VG hạ xuống dưới Vt → kênh ít electron hơn → dòng nhỏ đi nhiều lần nhưng không về không.

Xem lời đọc

Ở bài trước ta đã chọn điện áp ngưỡng theo một quy ước. Vậy dưới nó, dòng ra sao? Ta giữ điện áp máng không phẩy không năm vôn, rồi hạ điện áp cổng xuống dưới ngưỡng. Mỗi bước, kênh có ít electron hơn, và dòng nhỏ đi nhiều lần. Từ micrô ampe, dòng xuống na nô ampe, rồi pi cô ampe. Kim ampe kế đã nằm ở không từ lâu, còn dòng thì chưa về không. Ở không vôn vẫn còn cỡ một phẩy tám pi cô ampe trên mỗi micrô mét.

NMOS mẫu 180 nm, nguồn và thân nối đất, VD = 0,05 V; ID tính trên mỗi µm bề rộng cổng. Kênh trên hình là nồng độ electron mô phỏng ở VD = 0,05 V; hạt electron chỉ minh họa.

VG (V)ID (A/µm)Kim ampe kế thang 0–6 µA/µm (tính thêm)
0,64,9×10−682% thang
0,47 (Vt, dòng hằng)5,6×10−79% thang
0,49,7×10−81,6% thang
0,24,1×10−100,007% thang
01,8×10−120,00003% thang

Điện áp ngưỡng 0,47 V được xác định theo phương pháp dòng hằng (dòng 0,556 µA/µm), nên "dưới ngưỡng" chỉ là phía dưới một mức dòng quy ước, không có nghĩa dòng bằng không.

Dòng 1,8 pA/µm ứng với cỡ 1,1×107 electron mỗi giây qua mỗi µm bề rộng cổng (tính thêm: 1,8×10−12 A chia cho 1,602×10−19 C). Dòng ở VG = 0,6 V lớn hơn dòng ở VG = 0 cỡ 2,7 triệu lần (tính thêm).

Electron vượt rào nguồn–kênh

Dòng dưới ngưỡng là các electron của nguồn có đủ năng lượng để vượt rào dưới cổng: rào là độ cao đỉnh EC dưới cổng so với mức Fermi của nguồn, 0,32 eV ở VG = 0,2 V.

Hầu hết electron leo lên dốc rồi quay về nguồn; chỉ rất ít electron vượt đỉnh, trôi xuống phía máng và thành dòng 0,41 nA/µm.

Rào còn cao → rất ít electron của nguồn đủ năng lượng vượt đỉnh → dòng nhỏ nhưng khác không.

Xem lời đọc

Dòng dưới ngưỡng đến từ đâu? Ta nhìn giản đồ dải dọc kênh, ở điện áp cổng không phẩy hai vôn. Nguồn ở bên trái có rất nhiều electron, chuyển động nhiệt hỗn loạn. Dưới cổng là một rào cao không phẩy ba hai e vê. Hầu hết electron leo lên dốc rồi quay về nguồn. Chỉ rất hiếm electron đủ năng lượng vượt qua đỉnh, rồi trôi xuống phía máng. Mỗi electron như vậy góp vào dòng. Rào còn cao nên dòng nhỏ, nhưng không bằng không.

Trục dọc là năng lượng (eV), mốc 0 là mức Fermi của nguồn; trục ngang là vị trí x dọc hàng silicon sát oxit (sâu 0,65 nm). EC ở nguồn nằm 0,06 eV dưới mức Fermi. Đỉnh EC dưới cổng ở x = 0,389 µm, cao 0,320 eV so với mức Fermi của nguồn. Mức Fermi của máng nằm ở −0,05 eV vì VD = 0,05 V.

Nguồn chứa rất nhiều electron, nên một phần rất nhỏ ở đuôi năng lượng cao vẫn tạo dòng đo được. Tỉ lệ electron vượt đỉnh trên hình lớn hơn thật rất nhiều (thật cỡ 4×10−6 ở đỉnh, tính thêm: e−0,320/0,02585, với 0,02585 eV = kT/q là năng lượng nhiệt của electron ở 300 K), và kT vẽ lớn hơn thật chỉ ở hình này.

Mô hình tính mật độ electron theo thống kê Boltzmann và dòng khuếch tán–trôi, không theo dõi từng hạt. Mật độ electron ở đỉnh rào ∝ e−rào/kT nên hình vượt rào cho cùng quy luật, nhưng quỹ đạo từng hạt trên hình chỉ là minh họa (kênh 180 nm không phải kênh balistic, electron tán xạ nhiều lần).

Trục lôga: dòng dưới ngưỡng là một đoạn thẳng

Giữ nguyên đường ID–VG và đổi trục dọc sang lôga: dòng dưới ngưỡng thành đoạn gần thẳng, cứ khoảng 84 mV của VG thì dòng tăng mười lần.

Hai vạch liền nhau của trục lôga cách nhau một bậc (một dec): mỗi bậc là mười lần dòng. Subthreshold swing (SS, độ dốc dưới ngưỡng) là số mV của VG cần cho dòng tăng một bậc: cực tiểu 83,8 mV/dec ở VD = 0,05 V. Số này càng nhỏ, đường càng dốc, linh kiện tắt càng tốt.

Trục lôga → mỗi bậc là mười lần → dòng dưới ngưỡng là đoạn thẳng: cứ 84 mV của VG thì dòng tăng mười lần.

Xem lời đọc

Kim ampe kế không thấy dòng nhỏ, nên ta đổi cách đo. Giữ nguyên đường cong, chỉ đổi trục dọc sang lôga. Mỗi vạch là mười lần dòng, ta gọi là một bậc. Bạn nhìn đoạn dưới ngưỡng nhô lên thành một đường gần thẳng. Cứ tăng điện áp cổng khoảng tám mươi bốn mi li vôn, dòng tăng một bậc. Số mi li vôn cho mỗi bậc gọi là độ dốc dưới ngưỡng. Số này càng nhỏ, đường càng dốc, linh kiện tắt càng tốt. Gần ngưỡng, đường thoải dần.

Điều kiện: VD = 0,05 V, NMOS mẫu 180 nm, ID trên mỗi µm bề rộng cổng. Từ VG = 0 đến 0,4 V dòng tăng từ 1,8×10−12 lên 9,7×10−8 A/µm, tức cỡ 5,4×104 lần, gần 4,7 dec trên 0,4 V (tính thêm).

Hồi quy log ID theo VG trên VG = 0,025 đến 0,375 V (15 điểm) cho 84,2 mV/dec. SS cục bộ: 85,5 mV/dec ở VG = 0; 84,6; 83,95 và 83,98 ở 0,1; 0,2 và 0,3 V; 87,4 ở 0,4 V. Gần và vượt ngưỡng, SS lớn dần (102 mV/dec ở 0,475 V; 217 mV/dec ở 0,6 V), tức đường trên trục lôga thoải dần. Lý do xem phần Đọc thêm của mục sau.

Ở VD = 1,8 V, SS cực tiểu là 82,5 mV/dec.

Đuôi phân bố nhiệt: rào hạ, dòng tăng theo hàm mũ

Năng lượng nhiệt của electron trong nguồn có phân bố với đuôi giảm theo hàm mũ, nên mỗi lần rào hạ 59,5 meV (ứng với thế bề mặt tăng 59,5 mV) thì số electron đủ năng lượng vượt rào tăng mười lần, và dòng tăng theo.

Mô hình (dùng thống kê Boltzmann) cho đúng quy luật này, vì ln ID theo rào là đường thẳng có hệ số góc cỡ −38 eV−1, gần giá trị −38,7 eV−1 của phân bố nhiệt ở 300 K.

Rào hạ 59,5 meV → số electron trong đuôi phân bố trên mức rào lớn gấp mười → dòng tăng mười lần.

Xem lời đọc

Vì sao dòng đổi nhanh như vậy? Electron trong nguồn có năng lượng nhiệt khác nhau. Số electron có năng lượng cao giảm dần theo một đuôi, giảm theo hàm mũ. Muốn vượt rào, electron phải nằm trong đuôi, ở trên mức rào. Hạ rào năm mươi chín phẩy năm mi li e vê, ứng với năm mươi chín phẩy năm mi li vôn của thế bề mặt, thì số electron đủ năng lượng tăng mười lần. Mô hình khớp với điều này, vì dòng nằm trên một đường thẳng khi vẽ theo rào.

Electron chỉ vượt được rào nếu năng lượng cao hơn đỉnh rào. Phần đuôi của phân bố nhiệt ở độ cao φ trên mức Fermi giảm như e−φ/(kT/q), với kT/q = 25,85 mV ở 300 K. Mỗi 25,85 meV × ln 10 = 59,5 meV của φ là mười lần; rào hạ 59,5 meV ứng với thế bề mặt tăng 59,5 mV. Nếu ID chỉ tỉ lệ với đuôi này thì ln ID theo rào có hệ số góc −1/(kT/q) = −38,7 eV−1.

Đây là gần đúng: bỏ qua mật độ trạng thái, chỉ giữ hệ số mũ, đủ tốt khi rào cao hơn vài kT. Phép kiểm này cho thấy mô hình nhất quán với quy luật mũ, không phải bằng chứng tự nhiên độc lập.

VG (V)Rào (eV)ID (A/µm)
00,4621,8×10−12
0,10,3922,7×10−11
0,20,3204,1×10−10
0,30,2486,5×10−9
0,40,1769,7×10−8

Hồi quy trên VG từ −0,2 đến 0,4 V (6 điểm, VD = 0,05 V) cho −38,4 eV−1, bằng 0,992 lần −38,7; bỏ điểm VG = −0,2 V thì 5 điểm còn lại cho −38,1 (tính thêm). Ở VD = 1,8 V (VG = 0 đến 0,4 V) hệ số là −38,3. Nồng độ electron tại đỉnh rào bám đúng e−rào/kT (tăng 6,1×104 lần khi rào hạ 0,286 eV, độ dốc 38,5; tính thêm), còn ID chỉ tăng 5,4×104 lần. Độ lệch cỡ 1% nằm ở tốc độ electron qua đỉnh và bề dày dải dòng chảy, đổi nhẹ theo VG.

Điểm VG = −0,2 V ở VD = 0,05 V (8,4×10−15 A/µm) nằm đúng trên đường ngoại suy. Chỉ điểm VD = 1,8 V ở VG = −0,2 V (−2×10−16 A/µm) là sàn số học.

Đồ thị phân bố trên màn hình là đường minh họa theo e−E/kT trên thang lôga, trục dọc là mức độ chiếm chỗ (tương đối), không phải dữ liệu mô phỏng. Ở VG = 0,4 V phần diện tích trên mức rào vẫn rất nhỏ, cỡ một phần nghìn.

Dưới ngưỡng, độ hạ rào chỉ bằng 0,7 độ tăng của điện áp cổng

Dưới ngưỡng, mỗi 0,1 V của VG chỉ hạ rào khoảng 0,07 eV, nên cần cỡ 84 mV của VG, chứ không phải 59,5 mV, để dòng tăng mười lần.

Điện áp cổng chia ra: một phần rơi trên oxit, phần còn lại làm thế bề mặt silicon tăng. Từ VG = 0 đến 0,4 V, thế bề mặt chỉ tăng 0,29 V nên rào hạ từ 0,462 xuống 0,176 eV, tức 0,29 eV cho 0,4 V.

Cổng chia điện áp → dưới ngưỡng, độ hạ rào bằng 0,7 độ tăng của VG (mỗi 1 V của cổng hạ rào 0,7 eV) → cần 84 mV của VG cho mười lần dòng.

Xem lời đọc

Nhưng sao cần tám mươi bốn mi li vôn, mà không phải năm mươi chín phẩy năm? Vì điện áp cổng không đặt hết lên rào. Một phần rơi trên lớp oxit, phần còn lại làm thế bề mặt silicon tăng. Điện áp cổng tăng bốn phần mười vôn, thế bề mặt chỉ tăng không phẩy hai chín vôn, nên rào hạ không phẩy hai chín e vê. Tức là bảy phần mười điện áp cổng. Vì vậy dưới ngưỡng phải tăng điện áp cổng nhiều hơn, dòng mới tăng mười lần.

Ở VD = 0,05 V rào hạ trung bình 0,715 eV cho mỗi V của VG trong khoảng 0 đến 0,4 V; ở VD = 1,8 V là 0,723 (tính thêm từ bảng rào). Gọi m là hệ số sao cho rào hạ 1/m lần VG. Khi đó SS = m × (kT/q) × ln 10 = m × 59,5 mV/dec.

Từ SS cực tiểu 83,8 mV/dec suy ra m = 1,41, tức 1/m = 0,71, nhất quán với 0,715 đo từ rào: cùng một đại lượng nhìn theo hai cách (59,5/(0,715×0,992) = 83,9; tính thêm). Với m = 1 + Cdep/Cox, suy ra từ SS (không phải đại lượng mô hình xuất ra) Cdep/Cox = 0,41.

Hiểu đơn giản: tụ oxit và tụ vùng nghèo dưới kênh mắc nối tiếp nên chia VG; phần VG/m làm thế bề mặt silicon tăng. Đây là mô tả mức nhập môn; mô hình này không có điện tích oxit.

Hệ số 0,7 chỉ đúng dưới ngưỡng: độ hạ rào theo VG là 0,66 eV/V ở 0,4 → 0,5 V và 0,44 eV/V ở 0,5 → 0,6 V (tính thêm từ bảng rào). Gần ngưỡng, electron trong kênh đủ nhiều nên cũng chống lại việc thế bề mặt tăng (điện dung của lớp electron cộng vào điện dung vùng nghèo, m tăng), nên SS lớn dần; thêm vào đó độ linh động giảm. Ở 0,6 V, SS = 217 mV/dec không còn là "dưới ngưỡng".

VG (V)Rào ở VD = 0,05 V (eV)
00,462
0,20,320
0,40,176

Dòng tắt tại điều kiện đo đã ghi

Off-state current (dòng tắt) Ioff là dòng máng khi VG = 0: NMOS mẫu có 4,5 pA/µm ở VD = 1,8 V, và 1,8 pA/µm nếu đo ở VD = 0,05 V.

Tăng VD từ 0,05 lên 1,8 V, dòng tắt tăng cỡ 2,5 lần; số Ioff luôn kèm VG và VD lúc đo.

VG = 0 → rào còn 0,45 eV → dòng nhỏ nhưng khác không → Ioff = 4,5 pA/µm tại VD = 1,8 V.

Xem lời đọc

Bây giờ ta đánh dấu một điểm đo. Điện áp cổng bằng không, và dòng máng tại đó gọi là dòng tắt. Với điện áp máng không phẩy không năm vôn, dòng là một phẩy tám pi cô ampe trên mỗi micrô mét. Tăng điện áp máng lên một phẩy tám vôn, dòng thành bốn phẩy năm pi cô ampe. Vì vậy mỗi số dòng tắt phải ghi kèm điện áp cổng và điện áp máng. Dòng tắt rất nhỏ, nhưng không bằng không.

Theo quy ước dùng trong bài này (VD = VDD = 1,8 V), Ioff đo ở VG = 0 và VD = 1,8 V: 4,51 pA/µm (4,5055×10−12 A/µm). Ở VD = 0,05 V: 1,80 pA/µm. Chỉ có hai giá trị VD này, không có VD = 0,6 V ở VG = 0.

Dòng tăng 2,5 lần (tính thêm: 4,5055 chia 1,8004) khi VD tăng 36 lần. Rào hạ 13 meV (0,462 xuống 0,449 eV); một mình độ hạ rào này chỉ giải thích khoảng 1,65 lần (tính thêm: e0,013/0,02585), phần còn lại chưa tách. Tỉ số giữa VD = 1,8 V và 0,05 V là hằng cỡ 2,5–2,9 lần ở mọi VG dưới ngưỡng, nên đây là hệ số trước hàm mũ, không phải dòng cộng thêm. Một cách giải thích có thể, chưa xác minh: thừa số khuếch tán (1 − e−VD/(kT/q)) và rào ở độ sâu khác hàng 0,65 nm.

Trong mô hình này Ioff chủ yếu là dòng khuếch tán qua rào; dòng sinh hạt ở tiếp giáp máng cỡ femto ampe, nhỏ hơn nhiều (ước lượng q·ni·W/(2τ) cỡ 10−16–10−15 A/µm). Điểm VG = −0,2 V, VD = 1,8 V cho ID = −2×10−16 A/µm cũng cho thấy phần sinh hạt nhỏ hơn 4,5 pA/µm nhiều.

Ioff của chip thật thường lớn hơn, vì còn các thành phần mô hình này không có: band-to-band tunneling (xuyên hầm vùng–vùng) ở tiếp giáp máng, trong đó gate-induced drain leakage (rò máng cảm ứng bởi cổng) là trường hợp riêng ở chỗ máng chồng cổng; dòng xuyên hầm qua oxit cổng gần như không đáng kể ở VG = 0 với tox = 4,1 nm, chỉ nổi bật khi oxit mỏng cỡ 2 nm hoặc hơn nữa. Ioff còn tăng mạnh theo nhiệt độ (mô hình chỉ có 300 K), và lệch Vt giữa các linh kiện đổi Ioff theo 10ΔVt/SS (100 mV ứng với cỡ 16 lần).

Mô hình cũng bỏ qua lượng tử hóa và suy giảm cổng poly; mỗi hiệu ứng cỡ vài chục mV, làm Vt thật cao hơn và Ion thật thấp hơn (chưa xác minh).

Dòng bật cạnh dòng tắt: tỉ số bật/tắt

On-state current (dòng bật) Ion = 0,55 mA/µm khi VG = VD = 1,8 V; so với Ioff = 4,5 pA/µm khi VG = 0 và VD = 1,8 V, on/off ratio (tỉ số bật/tắt) cỡ 108.

Hai dòng cùng VD = 1,8 V, chỉ VG khác nhau (0 và 1,8 V), nên cách nhau cỡ tám bậc. Nếu đo cùng VD = 0,05 V thì tỉ số cỡ 3×107; tỉ số chỉ so sánh được khi điều kiện giống nhau.

VG từ 0 lên 1,8 V, cùng VD = 1,8 V → dòng tăng cỡ tám bậc → Ion/Ioff cỡ 108.

Xem lời đọc

Giờ ta đặt dòng bật cạnh dòng tắt, trên cùng đường cong. Cả hai đo ở điện áp máng một phẩy tám vôn. Dòng tắt ứng với điện áp cổng không vôn, cỡ bốn phẩy năm pi cô ampe. Dòng bật ứng với điện áp cổng một phẩy tám vôn, hơn nửa mi li ampe. Hai dòng cách nhau cỡ tám bậc, tức tỉ số cỡ một trăm triệu. Đo ở điện áp máng nhỏ, tỉ số chỉ còn cỡ ba mươi triệu.

DòngVG (V)VD (V)ID (A/µm)
Ion1,81,85,53×10−4
Ioff01,84,51×10−12
Ion1,80,056,02×10−5
Ioff00,051,80×10−12

Tỉ số 1,23×108 ứng với 8,09 dec (tính thêm: log10 của 1,23×108) ở VD = 1,8 V, quy ước dùng trong bài này (VD = VDD = 1,8 V); tỉ số 3,34×107 ở VD = 0,05 V. Tỉ số phụ thuộc VG chọn cho Ion và Ioff và phụ thuộc VD, nên chỉ so sánh được khi điều kiện giống nhau.

Các số này tính từ mô hình ở 300 K, bỏ qua các cơ chế rò khác (xem mục dòng tắt), nên Ioff của chip thật thường lớn hơn và tỉ số thường nhỏ hơn.