Cấu trúc và nguyên lý MOSFET
Thêm nguồn và máng vào tụ MOS
Thêm hai vùng loại n+ vào hai bên cổng của tụ MOS thì được MOSFET (transistor hiệu ứng trường MOS) loại n: vùng bên trái là source (nguồn), vùng bên phải là drain (máng).
Cổng, oxit và đế loại p giữ nguyên; đế có đầu nối riêng, gọi là body (thân).
Tụ MOS + hai vùng n+ hai bên cổng → NMOS (MOSFET có kênh loại n) có nguồn và máng.
Xem lời đọc
Bạn đã biết tụ MOS gồm cổng, oxit và đế loại pi. Giờ ta thêm hai vùng silicon pha tạp loại nờ rất nhiều, một vùng bên trái cổng, một vùng bên phải. Vùng bên trái là nguồn, vùng bên phải là máng. Cả hai chứa sẵn rất nhiều electron tự do. Đế loại pi vẫn nằm dưới, và có đầu nối riêng gọi là thân. Cổng dài cỡ không phẩy mười tám micrô mét. Cấu trúc này là MOSFET loại nờ.
Cổng dài 0,18 µm (từ x = 0,30 đến 0,48 µm), oxit dày 4,1 nm (đúng oxit của tụ MOS ở bài trước), hai vách cổng (còn gọi là spacer) rộng 70 nm mỗi bên. Nguồn và máng sâu 0,12 µm; phần sát cổng là vùng mở rộng pha tạp nhẹ hơn, sâu 50 nm (sẽ học ở bài 16). Nồng độ pha tạp loại n trong nguồn và máng cỡ 3×1020 cm−3 (nồng độ hoạt hóa, giải thích ở bài 16).
Đế loại p có nồng độ ròng ở mặt giữa kênh 7,4×1017 cm−3 sau mọi lần cấy boron (các lớp pha tạp dưới kênh, sát kênh và ở hai đầu kênh, sẽ học ở bài 16). Mô hình drift-diffusion hai chiều ở 300 K, cổng n+ poly lý tưởng; bỏ qua lượng tử hóa lớp electron và suy giảm cổng poly.
Tụ MOS ở bài trước dùng đúng pha tạp ròng ở bề mặt giữa kênh (7,4×1017 cm−3) và oxit 4,1 nm của NMOS mẫu này. Cách so sánh điện áp ngưỡng của tụ với NMOS mẫu xem ở mục dưới ngưỡng. Đây là mô hình chứ không phải số đo của một chip cụ thể.
Chưa có kênh: hai tiếp giáp p-n quay lưng vào nhau
Ở VG = 0, giữa nguồn và máng chỉ có đế loại p: hai tiếp giáp p-n quay lưng vào nhau, và giữa chúng là một rào cao 0,46 eV, nên dòng máng chỉ là 1,8 pA/µm ở VD = 0,05 V.
Tiếp giáp phía nguồn ở 0 V, tiếp giáp phía máng bị phân cực ngược 0,05 V; dưới cổng nồng độ electron chỉ cỡ 1011 cm−3, so với 3×1020 cm−3 ở nguồn và máng.
Giữa nguồn và máng là rào 0,46 eV → rất ít electron vượt qua → dòng gần như không.
Xem lời đọc
Giờ nhìn vào giữa nguồn và máng. Ở điện áp cổng bằng không, chỉ có đế loại pi nằm giữa hai vùng loại nờ. Hai tiếp giáp pi nờ ở đây quay lưng vào nhau. Tiếp giáp phía nguồn ở không vôn. Tiếp giáp phía máng bị phân cực ngược không phẩy không năm vôn. Giữa chúng có một rào cao khoảng không phẩy bốn sáu eV. Rất ít electron đủ năng lượng để vượt rào. Kim ampe kế vẫn đứng yên. Gần như chưa có đường nào cho electron đi.
Rào là chênh lệch giữa đỉnh EC dưới cổng (x ≈ 0,39 µm) và mức Fermi của nguồn: 0,462 eV ở VG = 0. Dòng 1,8 pA/µm (cỡ 1,1×107 electron mỗi giây trên mỗi µm bề rộng cổng) là dòng khuếch tán của vài electron nhiệt đủ năng lượng vượt rào, không phải dòng rò tiếp giáp. Nó nhỏ hơn dòng 0,56 µA/µm ở ngưỡng quy ước cỡ 5,5 bậc (mỗi bậc là mười lần).
Ở VG = 1,8 V cùng VD, dòng là 60 µA/µm, lớn gấp hơn ba mươi triệu lần. Ở VG = 0 dưới cổng chưa phải băng phẳng: cổng n+ làm điện áp băng phẳng cỡ −1 V, nên bề mặt đã là vùng nghèo, và nồng độ electron cách oxit 1,3 nm ở giữa kênh chỉ là 2,0×1011 cm−3 (VD = 0). Độ rộng vùng nghèo quanh hai tiếp giáp trên hình là minh họa, không phải số tính.
Tăng điện áp cổng, kênh bắt đầu nối nguồn với máng
Khi điện áp cổng tăng, rào dưới cổng hạ xuống và electron có sẵn ở nguồn và máng tràn vào sát mặt silicon, bắt đầu nối hai vùng thành một channel (kênh) electron; kênh này chính là lớp đảo, và vì toàn electron nên là n-channel (kênh n).
Từ VG = 0 lên 0,5 V, rào hạ từ 0,46 xuống 0,11 eV, và nồng độ electron cách oxit 1,3 nm ở giữa kênh tăng từ 2,0×1011 lên 1,0×1017 cm−3 (VD = 0).
Điện áp cổng lớn hơn → rào hạ xuống → electron từ nguồn và máng vào dưới cổng → kênh bắt đầu nối.
Xem lời đọc
Bây giờ ta tăng điện áp cổng từ không lên không phẩy năm vôn. Dưới cổng có một rào ngăn nguồn với máng, cao không phẩy bốn sáu eV. Điện áp cổng lớn hơn làm rào hạ xuống, còn không phẩy mười một eV. Electron không phải chờ sinh cặp, vì đã có sẵn hai bên cổng. Bạn nhìn chúng tràn vào sát mặt silicon dưới cổng. Kênh này chính là lớp đảo ta đã biết. Lúc này kênh mới bắt đầu nối nguồn với máng.
Ở tụ MOS đứng riêng, electron của lớp đảo chỉ có thể sinh bằng nhiệt trong silicon (sinh cặp electron–lỗ trống), nên lớp đảo cần thời gian mới đầy. Ở MOSFET, hai vùng n+ nằm ngay hai mép kênh và chứa cỡ 3×1020 cm−3 electron có sẵn, nên electron vào kênh gần như tức thì khi điện áp cổng đổi.
Số liệu ở VD = 0 (cân bằng). Rào tính tới đỉnh EC dưới cổng so với mức Fermi của nguồn: 0,462; 0,110 và 0,016 eV ở VG = 0; 0,5 và 1,0 V. Ở 0,5 V nồng độ electron giữa kênh là 1,0×1017 cm−3, cỡ 14% NA (7,4×1017 cm−3; lấy cách oxit 1,3 nm, khác độ sâu và khác định nghĩa ngưỡng n = NA của bài tụ MOS): kênh mới bắt đầu nối, kênh đầy ở điện áp lớn hơn.
Khi VG tăng có dòng nạp tức thời trên dây cổng, nguồn và máng (kim ampe kế giật nhẹ); khi ổn định thì dòng bằng không.
Điện áp cổng lớn hơn, kênh nhiều electron hơn
Điện áp cổng càng lớn, nồng độ electron trong kênh càng lớn và kênh càng đầy, còn bề dày vẫn chỉ cỡ 2 nm (khoảng 1,7 đến 2,2 nm).
Cách oxit 1,3 nm ở giữa kênh, nồng độ electron là 1,0×1017, 2,5×1018 và 5,0×1018 cm−3 khi VG = 0,5; 1,0 và 1,8 V (VD = 0).
Điện áp cổng lớn hơn → nồng độ electron trong kênh lớn hơn, kênh vẫn mỏng.
Xem lời đọc
Ta nâng tiếp điện áp cổng, lên một vôn, rồi một phẩy tám vôn. Mỗi lần, có thêm electron chạy từ nguồn và máng vào, và kênh đầy lên. Cách oxit một phẩy ba na nô mét, nồng độ electron tăng từ mười mũ mười bảy lên hai phẩy năm nhân mười mũ mười tám. Rồi lên năm nhân mười mũ mười tám. Nhưng kênh vẫn chỉ dày cỡ hai na nô mét. Cổng hầu như không làm kênh dày lên. Nó làm kênh chứa nhiều electron hơn.
Bề dày cỡ 2 nm chỉ là cỡ độ lớn: lưới tính có bước 1,09 nm. Theo mô phỏng ở VD = 0,05 V (số bề dày chỉ có ở điện áp này), lớp có nồng độ electron từ 1018 cm−3 trở lên dày 1,74 nm ở VG = 1,0 V và 2,18 nm ở 1,8 V.
Mô hình bỏ qua lượng tử hóa nên lớp electron thật còn lệch so với độ dày này: đỉnh nồng độ thật nằm cách oxit vài phần mười nm đến vài nm.
Điện áp máng làm electron trôi từ nguồn sang máng
Đặt điện áp máng nhỏ VD = 0,05 V, electron trong kênh trôi từ nguồn sang máng: đó là dòng máng, 27 µA/µm khi VG = 1,0 V.
Cực dương của pin nối với máng nên kéo electron về phía máng; electron ra khỏi máng theo dây về pin, còn dòng quy ước đi ngược chiều, từ máng sang nguồn trong kênh.
Điện áp máng → electron trôi qua kênh từ nguồn sang máng → dòng máng.
Xem lời đọc
Kênh đã có, nhưng kim ampe kế vẫn ở không. Giờ ta đặt điện áp nhỏ lên máng, không phẩy không năm vôn. Cực dương của pin nối với máng, nên máng kéo electron về phía nó. Bạn nhìn electron rời nguồn, chạy dọc kênh sang máng, rồi theo dây về pin. Từ cực âm của pin, electron lại đi vào nguồn. Dòng chạy liên tục. Theo quy ước, dòng đi ngược chiều electron, từ máng sang nguồn.
Ở VG = 1,0 V và VD = 0,05 V, dòng máng là 27 µA/µm. Mật độ mặt electron Ns (tích phân nồng độ electron theo chiều sâu từ mặt silicon đến 20 nm) tại giữa kênh x = 0,39 µm là 1,86×1012 cm−2. Chia dòng 0,272 A/cm cho q·Ns được tốc độ trôi trung bình ước tính cỡ 9×105 cm/s, nên electron vượt kênh dài 0,18 µm trong cỡ 20 ps. Chuyển động nhiệt cỡ 107 cm/s, nhanh hơn chuyển động trôi cỡ mười lần. Đây là ước tính chia dòng cho mật độ mặt, không phải kết quả mô phỏng riêng.
Quy ước dòng máng ID > 0 là dòng đi vào máng. Ở VD = 0 dòng gần bằng không (mô phỏng cho cỡ 10−15 A/µm, là sai số số học), vì không có điện trường dọc kênh để electron trôi một chiều.
Dưới điện áp ngưỡng, dòng máng nhỏ nhưng khác không
Dưới điện áp ngưỡng Vt dòng máng nhỏ nhưng vẫn khác không, giảm nhanh khi hạ VG (bài 14 sẽ xem kỹ); NMOS mẫu có Vt = 0,47 V theo một quy ước sẽ giải thích ở bài sau.
Ở VD = 0,05 V, dòng máng là 0,097 µA/µm khi VG = 0,4 V và 4,9 µA/µm khi VG = 0,6 V; ở VG = 0 vẫn còn 1,8 pA/µm.
Điện áp cổng nhỏ hơn Vt → rào còn cao, kênh ít electron → dòng máng rất nhỏ nhưng khác không.
Xem lời đọc
Điều gì xảy ra nếu ta hạ điện áp cổng xuống? Giữ điện áp máng không phẩy không năm vôn. Ở không phẩy sáu vôn, dòng cỡ năm micrô ampe trên mỗi micrô mét. Hạ xuống không phẩy bốn vôn, kênh còn rất ít electron, và dòng nhỏ hơn khoảng năm mươi lần. Kim ampe kế gần như nằm im. Quanh điện áp ngưỡng, cỡ không phẩy bốn bảy vôn, dòng chuyển dần từ nhỏ sang lớn. Dưới ngưỡng, dòng vẫn khác không, nhưng rất nhỏ.
Bài tụ MOS ký hiệu ngưỡng là VT cho tụ; từ bài này Vt dùng cho NMOS mẫu. Vt = 0,47 V của NMOS mẫu xác định từ dòng theo một quy ước mà bài 13 sẽ dạy. Điện áp ngưỡng 0,48 V của tụ MOS ở bài trước xác định bằng nồng độ electron sát oxit bằng nồng độ lỗ trống trong đế; hai cách cùng chỉ lúc kênh bắt đầu hình thành nhưng cho số hơi khác nhau.
Hai số gần nhau vì tụ MOS ở bài trước lấy đúng pha tạp ròng ở mặt kênh của NMOS mẫu (7,4×1017 cm−3 sau mọi lần cấy) và oxit 4,1 nm. Chúng còn lệch nhau chút vì định nghĩa khác và vì cấu trúc khác (tụ có đế đồng nhất, không có các lớp pha tạp riêng của NMOS). Mô hình bỏ qua suy giảm cổng poly và lượng tử hóa; mỗi hiệu ứng cỡ vài chục mV, làm Vt của linh kiện thật cao hơn và Ion thật thấp hơn (chưa xác minh).
Dòng giảm nhanh khi hạ VG: từ 0,5 xuống 0,4 V dòng giảm 11 lần, từ 1,07×10−6 xuống 9,7×10−8 A/µm. Dòng tắt ở VG = 0 và VD = 1,8 V là 4,5 pA/µm. Bài 14 xem kỹ cách dòng giảm.
Cổng hạ rào, máng kéo electron trôi
Điện áp cổng quyết định rào dưới cổng và số electron trong kênh; điện áp máng làm các electron ấy trôi thành dòng.
Rào còn cao thì điện áp máng chỉ tạo dòng rất nhỏ; có kênh mà điện áp máng bằng không thì electron chỉ chuyển động nhiệt, không có dòng ròng.
VG → hạ rào, số electron trong kênh; VD → electron trôi → dòng máng.
Xem lời đọc
Ta gom lại việc của hai điện áp. Điện áp cổng hạ rào dưới cổng, và quyết định kênh chứa bao nhiêu electron. Điện áp máng quyết định electron trong kênh có trôi thành dòng hay không. Bạn nhìn bốn trạng thái lần lượt hiện ra. Rào còn cao thì đặt điện áp máng cũng gần như không có dòng. Có kênh mà máng ở không vôn thì electron chỉ chuyển động nhiệt. Có cả hai thì dòng chạy, và điện áp cổng lớn hơn thì dòng lớn hơn.
| VG (V) | VD (V) | Rào (eV) | Kênh | ID (A/µm) |
|---|---|---|---|---|
| 0 | 0,05 | 0,462 (VD = 0) | chưa có | 1,8×10−12 |
| 1,0 | 0 | 0,016 | có | ≈ 0 |
| 1,0 | 0,05 | 0,016 (VD = 0) | có | 2,7×10−5 |
| 1,8 | 0,05 | chưa tính | có, nhiều electron hơn | 6,0×10−5 |
Cột rào luôn lấy ở VD = 0 (cân bằng), kể cả ở hàng có VD = 0,05 V. Nồng độ electron trong các ô VD = 0 lấy từ khung mô phỏng VD = 0, trong các ô VD = 0,05 V lấy từ khung VD = 0,05 V. Ở VD = 0 mô phỏng cho dòng cỡ 10−15 A/µm, là sai số số học, nên ghi ≈ 0.