Tụ MOS và điện tích bề mặt

Cổng, oxit và silicon hợp thành một tụ điện

Một tấm gate (cổng) dẫn điện, lớp oxide (oxit) SiO2 cách điện dày 4,1 nm và đế silicon loại p hợp thành một MOS capacitor (tụ MOS): điện tích trên cổng và điện tích trong silicon luôn bằng nhau và trái dấu.

Oxit không có hạt tải tự do, nên điện trường chạy xuyên qua nó, còn điện tích chỉ nằm ở hai phía.

Hai điện áp cổng khác nhau → điện tích hai bản đổi dấu, vẫn bằng nhau.

Xem lời đọc

Hãy nhìn ba lớp xếp cạnh nhau. Bên trái là tấm cổng dẫn điện. Ở giữa là lớp oxit dày bốn phẩy một na nô mét, cách điện. Bên phải là đế silicon loại pi. Cổng và đế là hai bản của một tụ điện, oxit nằm giữa. Ở điện áp cổng âm một phẩy năm vôn, cổng mang điện tích âm, còn phía silicon mang điện tích dương bằng đúng chừng ấy. Đặt cổng ở dương một phẩy hai mươi tám vôn, hai dấu đổi chỗ nhưng vẫn bằng nhau. Trong oxit không có hạt tải nào, chỉ có điện trường chạy xuyên qua.

MOS là viết tắt của kim loại – oxit – bán dẫn. Cổng của hình là silicon đa tinh thể pha tạp loại n rất nhiều (n+ poly-Si), dẫn điện đủ tốt để đóng vai bản kim loại. Đế là silicon loại p với NA = 7,44×1017 cm−3 ở 300 K, đúng pha tạp ròng ở bề mặt giữa kênh của NMOS mẫu, và oxit dày 4,1 nm cũng như NMOS mẫu. Đây là NMOS mẫu, mô hình một chiều, không phải số đo của một chip cụ thể.

Điện dung oxit Cox = 8,4 fF/µm². Ở VG = −1,5 V điện tích cổng QG = −0,33 µC/cm² (cỡ 2,1×1012 điện tích cơ bản trên cm²) và silicon mang +0,33 µC/cm². Ở VG = +1,28 V thì QG = +1,05 µC/cm² (cỡ 6,5×1012 cm−2) và silicon mang −1,05 µC/cm². Hai bản luôn cân bằng nhau, nên tổng điện tích của hệ bằng không.

Điện áp băng phẳng

Ở flat-band voltage (điện áp băng phẳng) VFB = −1,03 V, EC và EV của silicon nằm ngang đến tận bề mặt và không có điện tích nào, cả trên cổng lẫn trong silicon.

Mức Fermi của đế nằm ngang; mức Fermi của cổng dịch theo điện áp cổng, điện áp càng âm thì mức Fermi của cổng càng cao, và ở VFB nó nằm ngang với EC của silicon.

Điện áp cổng bằng VFB → dải phẳng → không có điện tích.

Xem lời đọc

Bây giờ ta đọc giản đồ dải của tụ này. Trục ngang là chiều sâu, đi từ cổng qua oxit vào silicon. Đường nét đứt là mức Fermi của đế, nằm ngang. Mức Fermi của cổng thì bị dịch lên hay xuống đúng bằng điện áp cổng. Với điện áp cổng âm một phẩy không ba vôn, nó cao hơn mức Fermi của đế một phẩy không ba e vê. Nghĩa là ngang với đáy vùng dẫn của silicon. Lúc đó dải của silicon phẳng đến tận bề mặt, và không có điện tích nào.

Cổng loại n rất nhiều có mức Fermi sát EC của chính nó, còn đế loại p có mức Fermi sát EV. Nếu nối thẳng cổng với đế (VG = 0), mức Fermi hai bên bằng nhau và dải silicon bị cong. Muốn dải phẳng phải hạ điện áp cổng xuống VFB, đúng bằng chênh lệch work function (hàm công thoát) giữa cổng và đế, với hình này là 1,03 V. Đó là khoảng cách từ EF đến EC của đế.

Từ VFB trở đi, điện áp cổng chia thành ba phần: VG = VFB + ψs + Vox, với ψs là độ cong dải ở bề mặt silicon và Vox là điện áp rơi trên oxit. Mô hình bỏ qua điện tích trong oxit, nên VFB chỉ do chênh lệch hàm công thoát.

Tích lũy

Khi cổng âm hơn điện áp băng phẳng, lỗ trống từ đế dồn lên sát oxit thành một lớp mỏng: đó là accumulation (tích lũy).

Ở VG = −1,5 V, nồng độ lỗ trống sát oxit cao gấp 21 lần nồng độ trong đế, trong lớp dày cỡ 7 nm.

Cổng âm → lỗ trống dồn tới sát oxit → silicon mang điện tích dương.

Xem lời đọc

Giờ ta hạ điện áp cổng xuống âm một phẩy năm vôn. Cổng mang điện tích âm, nên nó hút lỗ trống. Bạn nhìn các lỗ trống từ trong đế chạy về phía oxit, rồi dừng lại sát mặt oxit, vì oxit chặn chúng lại. Lỗ trống mới đi vào từ đầu nối của đế. Chúng tập trung thành một lớp rất mỏng, đông hơn trong đế khoảng hai mươi lần. Đó là tích lũy. Dải chỉ cong lên rất nhẹ, nhưng cũng đủ làm lỗ trống đông lên nhiều như vậy.

Ở VG = −1,5 V, dải bị cong lên chỉ 0,079 eV ở bề mặt (ψs = −0,079 V). Nồng độ lỗ trống phụ thuộc hàm mũ vào độ cong này: e0,079/0,0259 ≈ 21, nên bề mặt có 1,6×1019 cm−3 lỗ trống so với 7,4×1017 cm−3 trong đế.

Phần điện áp cổng vượt quá VFB là −0,47 V, trong đó 0,39 V rơi trên oxit và chỉ 0,08 V rơi trong silicon. Gần như toàn bộ điện áp rơi trên oxit, nên ở tích lũy tụ MOS cư xử gần như một tụ phẳng với điện dung Cox.

Số liệu ở đây là cân bằng một chiều. Lớp tích lũy thật mỏng đến mức hiệu ứng lượng tử bắt đầu đáng kể, mô hình bỏ qua điều đó.

Vùng nghèo dưới cổng

Khi điện áp cổng cao hơn VFB, lỗ trống bị đẩy khỏi bề mặt và để lộ ion B− cố định: ở VG = −0,4 V, vùng nghèo dưới cổng rộng 22 nm.

Điện tích âm trong silicon chính là các ion B− của vùng nghèo; electron ở bề mặt còn rất ít.

Điện áp cổng cao hơn VFB → lỗ trống bị đẩy sâu → ion B− lộ ra thành điện tích âm.

Xem lời đọc

Tiếp theo ta đưa điện áp cổng từ âm một phẩy không ba về âm không phẩy bốn vôn, tức là bớt âm đi. Điện áp cổng giờ cao hơn mức băng phẳng, nên cổng đẩy lỗ trống ra xa. Bạn nhìn lỗ trống rút sâu vào đế. Chúng để lại các ion bo âm đứng yên, giống vùng nghèo ở tiếp giáp pi nờ. Các ion này chính là điện tích âm trong silicon, cân bằng với điện tích dương trên cổng. Vùng nghèo rộng khoảng hai mươi hai na nô mét, và dải ở bề mặt cong xuống.

Điện tích trong vùng nghèo bằng điện tích của các ion B− trong bề rộng W: Qs = −q·NA·W. Với NA = 7,44×1017 cm−3 và W = 22 nm, Qs = −0,27 µC/cm², đúng bằng điện tích dương trên cổng. Dải ở bề mặt cong xuống 0,31 eV (ψs = 0,31 V).

Ở trạng thái này nồng độ electron sát oxit chỉ cỡ 2,4×107 cm−3, nhỏ hơn nhiều so với 4,2×1012 cm−3 lỗ trống còn sót ở đó: bề mặt đã nghèo cả hai loại hạt tải.

Đảo yếu: electron xuất hiện sát oxit

Ở VG = 0,43 V, dải cong xuống đủ sâu để electron thiểu số tụ lại thành một lớp mỏng sát oxit: đây là inversion (đảo), mức đầu gọi là weak inversion (đảo yếu).

Nhiệt sinh các cặp electron–lỗ trống trong vùng nghèo; điện trường kéo electron về phía oxit và đẩy lỗ trống sâu vào đế.

Dải cong sâu → cặp sinh nhiệt tách ra → electron tụ sát oxit.

Xem lời đọc

Tăng tiếp điện áp cổng lên không phẩy bốn mươi ba vôn. Dải ở bề mặt cong xuống sâu hơn nhiều. Bạn nhìn chỗ này, trong vùng nghèo, nhiệt sinh ra một cặp electron và lỗ trống. Điện trường tách chúng ra. Electron chạy về phía oxit và dừng lại sát mặt oxit, còn lỗ trống bị đẩy sâu vào đế. Mỗi cặp như vậy thêm một electron vào lớp sát oxit. Lớp này còn thưa, nên gọi là đảo yếu.

Ở VG = 0,43 V, thấp hơn ngưỡng 0,05 V, dải bề mặt cong xuống 0,90 eV, nồng độ electron sát oxit đạt 2,0×1017 cm−3, bằng khoảng 0,27 NA. Phần electron chỉ chiếm cỡ 0,4% điện tích trong silicon; phần còn lại vẫn là ion B− của vùng nghèo rộng 39 nm. Vì vậy hình phóng đại số electron để thấy được.

Ở tụ MOS đứng riêng, nguồn electron chỉ là cặp sinh bằng nhiệt trong silicon, nên lớp đảo cần thời gian để đầy lên. Hình chỉ cho thấy từng cặp được sinh và tách; nhịp xuất hiện của các cặp là minh họa, không phải thời gian thật. Thời gian thật cỡ từ giây đến hàng giờ ở silicon sạch; ở linh kiện thật, electron đến rất nhanh từ vùng nguồn và máng.

Điện áp ngưỡng

Threshold voltage (điện áp ngưỡng) VT là điện áp cổng mà nồng độ electron ở bề mặt ns bằng nồng độ lỗ trống trong đế NA; NMOS mẫu có VT = 0,48 V.

Trên giản đồ dải, lúc đó khoảng từ EF lên EC ở bề mặt bằng khoảng từ EV lên EF trong đế, cùng 0,09 eV; dải đã cong xuống 0,94 eV.

Cổng ở ngưỡng → nồng độ electron sát oxit bằng nồng độ lỗ trống trong đế.

Xem lời đọc

Đây là điểm quan trọng nhất của bài. Ở điện áp cổng không phẩy bốn mươi tám vôn, nồng độ electron sát oxit đã tăng lên gần bốn lần so với trước, trong khi điện tích cổng chỉ tăng ba phần trăm. Nồng độ ấy vừa bằng nồng độ lỗ trống trong đế. Bạn nhìn hai thước đo. Thước trong đế đo từ đỉnh vùng hóa trị lên mức Fermi. Thước sát oxit đo từ mức Fermi lên đáy vùng dẫn. Hai thước dài bằng nhau. Đó là điện áp ngưỡng của tụ mẫu này.

Gọi φF = 0,469 V là khoảng cách từ mức giữa vùng cấm đến EF trong đế. Dải cong xuống 2φF = 0,937 V thì mức giữa vùng cấm ở bề mặt thấp hơn EF đúng φF: bề mặt loại n với nồng độ electron đúng bằng nồng độ lỗ trống của đế, hình ảnh gương của đế loại p. EC ở bề mặt vẫn cách EF 0,09 eV chứ chưa chạm EF.

VT = VFB + 2φF + Vox = −1,029 + 0,937 + 0,571 ≈ 0,48 V. Ở ngưỡng, electron chỉ chiếm cỡ 1,4% điện tích trong silicon, vì chúng nằm trong lớp rất mỏng; phần còn lại là ion B− của vùng nghèo rộng 40 nm.

Từ 0,43 V lên 0,48 V, điện tích cổng chỉ tăng khoảng 3% (0,467 lên 0,481 µC/cm²) nhưng nồng độ electron sát oxit tăng gần 4 lần (2,0×1017 lên 7,44×1017 cm−3), vì nó phụ thuộc hàm mũ vào độ cong dải. Đây là một cách định nghĩa ngưỡng, còn có cách khác như ngoại suy từ đường dòng. VT = 0,48 V của tụ này gần Vt = 0,47 V mà bài sau xác định cho NMOS mẫu bằng dòng hằng, vì tụ dùng đúng pha tạp ròng bề mặt giữa kênh và oxit 4,1 nm của NMOS mẫu. Hai số khác nhau ở định nghĩa (nồng độ electron bằng NA so với dòng hằng) và ở cấu trúc (tụ có đế đồng nhất, không có giếng và halo).

Đảo mạnh: lớp electron mỏng trên vùng nghèo

Trên ngưỡng là strong inversion (đảo mạnh): điện áp cổng tăng thêm chủ yếu thêm electron vào lớp sát oxit, dày cỡ 3 nm (nồng độ electron còn lớn hơn NA/10), còn vùng nghèo B− bên dưới vẫn rộng cỡ 40 nm.

Ở VG = 1,28 V, nồng độ electron sát oxit cỡ 130 lần NA; vùng nghèo chỉ rộng thêm từ 40 nm lên 42 nm.

Cổng trên ngưỡng → thêm electron sát oxit → vùng nghèo B− gần như giữ nguyên.

Xem lời đọc

Giờ ta nâng cổng lên một phẩy hai mươi tám vôn, cao hơn ngưỡng. Nồng độ electron sát oxit tăng lên cỡ một trăm ba mươi lần nồng độ lỗ trống trong đế. Nhưng bạn nhìn kích thước thật. Lớp electron chỉ dày cỡ ba na nô mét, mỏng hơn cả oxit. Bên dưới nó, vùng nghèo với các ion bo âm vẫn còn, rộng cỡ bốn mươi na nô mét. Phần điện tích thêm vào chủ yếu là electron.

Điện tích trong silicon Qs gồm phần ion B− của vùng nghèo và phần electron của lớp đảo. Ở VT, electron chỉ chiếm khoảng 1,4% Qs. Ở VG = 1,28 V, Qs = −1,05 µC/cm², trong đó electron chiếm khoảng 52% (−0,55 µC/cm²) và ion B− khoảng 48% (−0,50 µC/cm²). Hai tỉ lệ này được tính thêm bằng cách lấy tích phân từ hồ sơ nồng độ của bộ giải.

Lớp electron mỏng vì nồng độ của nó giảm theo hàm mũ khi rời bề mặt: n giảm xuống dưới NA/10 sau cỡ 3,5 nm (dưới NA sau cỡ 2,2 nm). Lớp mỏng đó che chắn điện trường, nên vùng nghèo hầu như không rộng thêm. Mô hình bỏ qua hiệu ứng lượng tử của lớp đảo, nên độ dày thật còn lệch so với con số này.

Hình mô tả điện áp cổng quét chậm, luôn ở cân bằng. Vùng nghèo 42 nm lớn hơn Wmax = 40 nm của sách giáo khoa vì sách coi ψs bị ghim ở 2φF, còn thực tế ψs vẫn tăng chậm (đến 1,06 V) nên vùng nghèo giãn thêm vài nm. Nếu điện áp đổi nhanh hơn tốc độ sinh cặp, vùng nghèo tạm sâu hơn, cỡ 52 nm ở 1,28 V (ước lượng), rồi co về 42 nm khi electron kịp tụ lại.

Điện tích trên cổng theo điện áp cổng

Đồ thị QG theo VG gom các trạng thái vừa đọc: QG luôn tăng theo VG, dốc ở tích lũy và đảo mạnh, thoải nhất ở giữa, quanh 0,35 V.

Độ dốc của đường là điện dung của tụ: gần bằng điện dung oxit Cox = 8,4 fF/µm² khi điện tích nằm sát oxit, nhỏ hơn khi điện tích phải lùi sâu vào vùng nghèo.

Điện áp cổng tăng → điện tích cổng tăng → thoải nhất ở giữa, quanh 0,35 V.

Xem lời đọc

Ta gom tất cả vào một đồ thị. Trục ngang là điện áp cổng, trục dọc là điện tích trên cổng. Điểm sáng chạy từ trái sang phải. Ở bên trái là tích lũy, đường dốc. Qua điện áp băng phẳng, điện tích đổi dấu. Ở giữa, quanh không phẩy ba mươi lăm vôn, đường thoải nhất, vì điện tích phải lùi sâu vào đế. Sau ngưỡng, đường lại dốc, vì electron nằm sát oxit. Độ dốc của đường chính là điện dung của tụ.

VG (V)Trạng tháiψs (V)QG (µC/cm²)Vùng nghèo W (nm)
−1,50tích lũy−0,079−0,330 (lớp lỗ trống)
−1,03băng phẳng000
−0,40nghèo0,313+0,2722
0,43đảo yếu0,903+0,4739
0,48ngưỡng0,937+0,4840
1,28đảo mạnh1,063+1,0542

Điện dung tần số thấp chia cho Cox bằng 0,90 ở VG = −1,5 V, giảm xuống cực tiểu khoảng 0,25 quanh VG = 0,35 V rồi lên 0,96 ở VG = 1,5 V. Tần số thấp nghĩa là electron kịp sinh ra theo điện áp.

Giả thiết của mô hình: cổng n+ poly-Si có hàm công thoát bằng ái lực electron của silicon, oxit SiO2 dày 4,1 nm với hằng số điện môi 3,9, đế p với NA = 7,44×1017 cm−3 ở 300 K, giải một chiều phương trình Poisson–Boltzmann. Bỏ qua: lượng tử hóa lớp đảo, suy giảm cổng poly, điện tích oxit và điện tích bẫy, dòng rò qua oxit, điện trở nối tiếp, và điện dung ở tần số cao.