Quang khắc và giới hạn phân giải
Máy quang khắc thu nhỏ hình mặt nạ bốn lần
Hình trên mặt nạ lớn gấp bốn lần hình in lên chất cản quang.
Ánh sáng qua mặt nạ đi tiếp qua projection lens (thấu kính chiếu), thu hình nhỏ đi bốn lần.
Nét in trên chất cản quang vì thế nhỏ bằng một phần tư nét trên mặt nạ.
Xem lời đọc
Máy quang khắc chiếu ánh sáng xuống mặt nạ. Ánh sáng chỉ lọt qua chỗ mặt nạ để hở. Rồi nó đi qua một hệ thấu kính chiếu. Thấu kính gom chùm sáng lại và thu hình nhỏ đi bốn lần. Nét trên mặt nạ vì thế lớn gấp bốn lần nét in trên chất cản quang. Chỗ chất cản quang dưới chùm sáng bị chiếu, chỗ còn lại thì không. Hình trên tấm silicon luôn nhỏ hơn hình trên mặt nạ. Vậy máy quang khắc in được nét hẹp hơn nhiều so với khe trên mặt nạ.
Tỉ lệ bốn lần là tỉ lệ thường dùng, tính theo mỗi chiều. Hình vẽ một thấu kính thay cho cả hệ thấu kính nhiều lớp.
Hình vẽ mặt nạ cho ánh sáng đi qua; một số máy dùng gương thay cho thấu kính và mặt nạ phản xạ thay cho mặt nạ cho ánh sáng đi qua. Kích thước và khoảng cách vẽ không theo tỉ lệ thật.
Nhiễu xạ làm nhòe nét nhỏ
Khe càng hẹp thì ánh sáng càng loe; hai khe cách nhau như cũ nhưng hai vệt loe chồng lên nhau.
Diffraction (nhiễu xạ) làm ánh sáng loe ra khi qua khe hẹp.
Hai vệt cạnh nhau vì thế nhòe và chồng lên nhau trên chất cản quang.
Xem lời đọc
Ánh sáng qua khe rộng thì hình sáng trên chất cản quang vẫn gọn. Mỗi khe cho một vệt sáng riêng, hai vệt cách nhau rõ ràng. Khi khe hẹp lại, ánh sáng bị bẻ cong và loe ra hai bên. Hiện tượng đó gọi là nhiễu xạ. Khe càng hẹp thì ánh sáng càng loe. Hai khe vẫn cách nhau như cũ, nhưng hai vệt loe đã chồng lên nhau. Chúng nhòe thành một vệt, và chất cản quang không còn phân biệt được hai nét. Vậy nhiễu xạ đặt giới hạn cho nét nhỏ nhất in được.
Hình là đơn giản hóa: đường cong chỉ minh họa hình dạng, không tính từ phương trình. Giữa hai panel chỉ đổi bề rộng khe (40 xuống 10 đơn vị vẽ), khoảng cách hai khe giữ nguyên (60 đơn vị vẽ).
Khe hẹp làm vệt loe rộng hơn khoảng cách hai khe nên hai vệt cộng lại thành một đỉnh. Thấu kính chỉ gom được phần ánh sáng loe trong một góc, phần bị mất làm hình nhòe thêm. Nhiễu xạ mạnh khi khe hẹp cỡ bước sóng.
Nửa bước lưới đo độ phân giải của máy quang khắc
Nửa bước lưới nhỏ nhất mà máy còn in tách được chính là độ phân giải của nó.
Half-pitch (nửa bước lưới) là nửa khoảng cách từ mép trái đường này đến mép trái đường kế bên trong một lưới.
Nửa bước lưới nhỏ nhất mà máy còn in tách được là resolution (độ phân giải).
Xem lời đọc
Để đo khả năng của máy, ta in một lưới gồm nhiều đường song song. Khoảng cách từ mép trái đường này đến mép trái đường kế bên gọi là bước lưới. Một nửa khoảng cách đó là nửa bước lưới. Lưới càng mịn thì nửa bước lưới càng nhỏ. Nửa bước lưới nhỏ nhất mà máy còn in tách được gọi là độ phân giải. Con số này càng nhỏ thì máy càng tốt. Vì thế khi so các máy quang khắc, ta so nửa bước lưới nhỏ nhất của chúng.
Trong lưới có đường rộng bằng khe, nửa bước lưới bằng bề rộng một đường.
Hình vẽ chất cản quang sau hiện hình; hai lưới vẽ cùng tỉ lệ; lưới ở panel dưới do máy có độ phân giải tốt hơn in ra. Số liệu của máy trong bài này đều là nửa bước lưới của lưới đường song song dày đặc.
Ba đại lượng quyết định nửa bước lưới nhỏ nhất
Nửa bước lưới nhỏ nhất bằng k₁ nhân bước sóng chia khẩu độ số.
Nửa bước lưới nhỏ nhất bằng k₁ nhân λ chia NA.
Wavelength (bước sóng) λ là độ dài sóng ánh sáng; numerical aperture, NA (khẩu độ số) là mức thấu kính gom được ánh sáng loe; k₁ (hệ số quy trình) là mức tối ưu của chất cản quang, mặt nạ và cách chiếu.
Xem lời đọc
Nửa bước lưới nhỏ nhất được tính từ ba đại lượng. Đại lượng đầu là bước sóng của ánh sáng. Bước sóng càng ngắn thì nhiễu xạ càng yếu và nét càng nhỏ. Đại lượng thứ hai là khẩu độ số, gọi tắt là NA. Khẩu độ số cho biết thấu kính gom được ánh sáng loe ở góc rộng đến đâu. Gom được càng nhiều thì nét in càng nhỏ. Đại lượng thứ ba là hệ số quy trình, ta gọi là k₁. Nó phản ánh mức tối ưu của chất cản quang, mặt nạ và cách chiếu. Nửa bước lưới nhỏ nhất bằng k₁ nhân bước sóng, rồi chia cho khẩu độ số.
Công thức Rayleigh viết cho lưới đường song song dày đặc. Khẩu độ số NA bằng n nhân sin θ, với n là chiết suất của môi trường giữa hệ quang học và chất cản quang và θ là nửa góc lớn nhất của chùm sáng mà hệ quang học nhận. Máy EUV dùng gương thay cho thấu kính; NA vẫn có cùng ý nghĩa.
Với một lần chiếu, k₁ không nhỏ hơn 0,25. Ví dụ: ArF ngâm nước, k₁ = 0,25, λ = 193 nm, NA = 1,35 cho 0,25 × 193 ÷ 1,35 ≈ 36 nm. Hình vẽ minh họa cách đổi, không phải tỉ lệ thật.
Bốn thế hệ máy quang khắc giảm nửa bước lưới nhỏ nhất từ cỡ 110 nm xuống cỡ 13 nm
Từ KrF tới EUV, nửa bước lưới nhỏ nhất của một lần chiếu giảm từ cỡ 110 nm xuống cỡ 13 nm; mỗi thế hệ đổi bước sóng hoặc NA, riêng EUV nhờ bước sóng.
Máy DUV (cực tím sâu) dùng laser KrF hoặc ArF; ArF immersion (ngâm nước) thêm một lớp nước giữa thấu kính và tấm silicon.
Máy EUV (cực tím cực ngắn) dùng bước sóng 13,5 nm, dù NA nhỏ hơn ngâm nước.
Xem lời đọc
Trong bốn thế hệ này, máy đầu dùng KrF, bước sóng hai trăm bốn mươi tám nanô mét. Nửa bước lưới nhỏ nhất của nó cỡ một trăm mười nanô mét. Máy ArF có bước sóng ngắn hơn, một trăm chín mươi ba nanô mét. Loại khô, không có nước, đạt cỡ sáu mươi lăm nanô mét. Rồi người ta thêm lớp nước giữa thấu kính và tấm silicon. Nước đưa khẩu độ số vượt một, nửa bước lưới còn cỡ ba mươi tám nanô mét. Cuối cùng, EUV dùng bước sóng mười ba phẩy năm nanô mét, ngắn hơn hẳn. Nhờ đó nửa bước lưới chỉ còn cỡ mười ba nanô mét.
KrF và ArF là hai loại laser cực tím (krypton fluoride, argon fluoride). Con số là nửa bước lưới nhỏ nhất của một lần chiếu theo thông số sản xuất ASML công bố, làm tròn kiểu "cỡ". KrF: cỡ 110 nm (NA 0,80). ArF khô: 65 nm khi sản xuất (NA 0,93); 57 nm chỉ đạt khi dùng ánh sáng phân cực. ArF ngâm nước: 38 nm (NA 1,35). EUV: cỡ 13 nm (NA 0,33, nhỏ hơn ngâm nước, nên EUV nhỏ chủ yếu nhờ bước sóng ngắn hơn khoảng mười bốn lần).
Nước có chiết suất lớn hơn không khí nên NA vượt 1. Khác với máy DUV, máy EUV dùng mặt nạ phản xạ ánh sáng thay vì cho ánh sáng đi qua; hình chỉ so nửa bước lưới. Với k₁ = 0,25 (giới hạn lý thuyết), nửa bước lưới là 77, 52, 36 và 10 nm.
Một lần chiếu có sàn k₁ bằng 0,25
Không máy nào xuống dưới sàn k₁ = 0,25 của một lần chiếu; ArF ngâm nước sát sàn nhất, EUV còn dư địa hơn.
Khi chiếu một lần, k₁ không thể nhỏ hơn 0,25.
Tính ngược từ nửa bước lưới thật, ArF ngâm nước sát sàn nhất; ba máy còn lại cách sàn xa hơn.
Xem lời đọc
Công thức cho thấy ta có thể giảm k₁ để nét nhỏ hơn. Nhưng với một lần chiếu, k₁ không thể nhỏ hơn không phẩy hai mươi lăm. Dưới mức đó, hai nét sát nhau không còn tách được, hình mất nét. Ta tính ngược k₁ từ nửa bước lưới thật của bốn thế hệ máy. Máy ArF ngâm nước sát sàn nhất, hai máy kia cách sàn xa hơn. Máy EUV cũng chưa chạm sàn, còn dư địa. Vậy chiếu một lần đã đến gần giới hạn.
k₁ = nửa bước lưới × NA ÷ λ. KrF: 110 × 0,80 ÷ 248 ≈ 0,35. ArF khô: 65 × 0,93 ÷ 193 ≈ 0,31. ArF ngâm nước: 38 × 1,35 ÷ 193 ≈ 0,27. EUV: 13 × 0,33 ÷ 13,5 ≈ 0,32.
Sàn 0,25 là giới hạn lý thuyết của một lần chiếu với đường song song dày đặc: dưới mức đó các chùm nhiễu xạ không lọt hết vào hệ quang học nên hai nét sát nhau không còn tách được. Điểm vẽ vòng rỗng màu nhấn; trục k₁ tăng sang phải.
Đa tạo mẫu LELE chia lưới dày thành hai lần chiếu thưa hơn
Mỗi lần chiếu in lưới thưa gấp đôi; ghép hai lần thì được lưới dày gấp đôi.
Multiple patterning (đa tạo mẫu) tách một lưới dày thành nhiều lần chiếu thưa hơn rồi ghép lại.
Kiểu LELE (chiếu, khắc, chiếu, khắc) chiếu rồi khắc hai lần, mỗi lần dùng một mặt nạ riêng.
Xem lời đọc
Một lần chiếu không in nổi lưới dày hơn sàn của nó. Vì vậy người ta tách lưới dày thành hai mặt nạ. Mỗi mặt nạ chỉ có các đường thưa gấp đôi. Lần chiếu thứ nhất in một nửa số đường rồi khắc. Lần chiếu thứ hai in nửa còn lại, nằm xen giữa các đường đầu. Ghép hai lần lại, ta có lưới dày gấp đôi. Mỗi lần chiếu sau phải chồng khít với lần trước.
LELE là Litho-Etch-Litho-Etch (chiếu, khắc, chiếu, khắc). Mỗi lần chiếu cần chồng khít với lần trước nên có nguy cơ lệch lớp.
Kỹ thuật này còn được dùng song song với EUV ở nhiều lớp của chip hiện nay, nhưng tăng số bước xử lý, chi phí và nguy cơ lệch lớp. Hình vẽ lưới 30 đơn vị, không theo tỉ lệ thật; đường vẽ là phần màng còn lại sau khắc.
Đa tạo mẫu bằng spacer chia đôi khoảng cách giữa các đường lõi
Chiếu một lần tạo lõi, phủ màng rồi khắc chừa spacer, bỏ lõi thì lưới dày gấp đôi.
Kiểu SADP (chia đôi) và SAQP (chia tư) chiếu một lần để tạo đường lõi, rồi dùng spacer (vách cách bên) của màng phủ quanh lõi để chia nhỏ khoảng cách.
Mỗi vòng phủ, khắc, bỏ lõi chia đôi khoảng cách; lặp thêm một vòng thì chia tư.
Xem lời đọc
Cách thứ hai chỉ chiếu một lần. Lần chiếu đó tạo các đường lõi thưa. Ta phủ một màng mỏng đều quanh mỗi lõi. Màng bao cả hai bên và phía trên của lõi. Khắc bớt phần màng nằm ngang để chỉ còn màng ở hai bên lõi. Phần màng còn lại gọi là spacer. Bỏ lõi đi, các spacer tạo lưới dày gấp đôi lưới lõi. Lặp vòng này thêm một lần thì lưới dày gấp bốn lưới lõi ban đầu.
SADP là self-aligned double patterning (chia đôi bằng spacer tự căn); SAQP là self-aligned quadruple patterning, lặp lại vòng này một lần nữa để chia tư; hình chỉ vẽ một vòng. Spacer là màng dựng ở hai bên mỗi đường lõi.
Khắc ở đây theo phương thẳng đứng, chỉ bỏ phần màng nằm ngang nên còn spacer. Các kỹ thuật này tăng số bước xử lý (phủ, khắc, bỏ lõi) và chi phí. Hình vẽ lưới 30 đơn vị, không theo tỉ lệ thật; bề dày màng vẽ dày hơn thật.
Quang khắc là yếu tố giới hạn hàng đầu của bề rộng đường trên chip
Nửa bước lưới nhỏ nhất máy in được quyết định bề rộng ngang nhỏ nhất của đường trên chip khi chiếu một lần.
Bề rộng ngang nhỏ nhất của đường trên chip bắt đầu từ nửa bước lưới nhỏ nhất mà máy quang khắc in được, rồi khắc chuyển nét đó xuống màng.
Muốn nhỏ hơn thì giảm bước sóng, tăng NA hoặc chiếu nhiều lần.
Xem lời đọc
Bề rộng ngang nhỏ nhất của đường trên chip bắt đầu từ nửa bước lưới nhỏ nhất của máy. Muốn bề rộng đó nhỏ hơn, ta giảm bước sóng, tăng khẩu độ số hoặc chiếu nhiều lần. Ngay cả khi đã có EUV, nhiều lớp vẫn phải chiếu nhiều lần. Hình này vẽ trường hợp chiếu một lần, không dùng spacer. Sau khi chiếu, khắc chuyển nét đã in xuống màng và silicon. Bề rộng đường trên chip khi đó bằng nửa bước lưới đã in. Vậy quang khắc là yếu tố giới hạn hàng đầu của bề rộng đường trên chip.
Hình vẽ trường hợp chiếu một lần, không dùng spacer. Với đa tạo mẫu, bề rộng đường và nửa bước lưới trên chip nhỏ hơn nửa bước lưới của một lần chiếu.
Ở chip tiên tiến hiện nay, nhiều lớp vẫn phải chiếu nhiều lần dù đã có EUV. Máy EUV dùng gương thay cho thấu kính. Kích thước thật của từng lớp khác nhau; lớp thô vẫn dùng máy đời trước.
Số liệu
- Loại số liệu: số liệu từ thông số nhà sản xuất máy và tính từ công thức R = k1·λ/NA; không phải mô phỏng.
- Công thức và sàn k₁ = 0,25: USPTO 8394571 (giá trị nhỏ nhất của k1 là 0,25 cho một lần chiếu); Purdue Semiconductors lecture (Tony Yen, 2026).
- ArF ngâm nước (38 nm, NA 1,35): ASML TWINSCAN NXT:2050i, https://www.asml.com/en/products/duv-lithography-systems/twinscan-nxt2050i: NA 1,35, λ 193 nm, nửa bước lưới 38 nm.
- ArF khô (65 nm, NA 0,93): ASML TWINSCAN XT:1460K, https://www.asml.com/en/products/duv-lithography-systems/twinscan-xt1460k: NA 0,93, 65 nm khi sản xuất (57 nm chỉ khi dùng ánh sáng phân cực).
- KrF (cỡ 110 nm, NA 0,80): ASML TWINSCAN XT:860N, https://www.asml.com/products/duv-lithography-systems/twinscan-xt860n: λ 248 nm, NA 0,55 đến 0,80, độ phân giải không quá 110 nm.
- EUV (13,5 nm, NA 0,33): ASML TWINSCAN NXE:3600D, https://asml.com/en/products/euv-lithography-systems/twinscan-nxe-3600d: λ 13,5 nm, NA 0,33. Cỡ 13 nm: DIGITIMES, https://www.digitimes.com.tw/col/article/?id=10075 (mức trung bình, dùng "cỡ 13 nm"; không thấy trên trang ASML).
- Giới hạn: số "cỡ" làm tròn theo thông số công bố; k1 là phép tính ngược từ các số đó; EUV 13 nm chỉ có một nguồn thứ cấp; đường cong nhiễu xạ ở cảnh 2 và lưới ở cảnh 7, 8 chỉ minh họa, không tính từ phương trình và không theo tỉ lệ thật.