Dải năng lượng và vùng cấm
Vùng hóa trị
Trên energy band diagram (giản đồ dải năng lượng), electron trong liên kết nằm ở valence band (vùng hóa trị), có đỉnh là EV.
Electron bị giữ trong liên kết có năng lượng nhỏ hơn electron tự do.
Mọi liên kết đủ electron → vùng hóa trị gần như đầy.
Xem lời đọc
Bây giờ ta đọc cùng một tinh thể bằng giản đồ dải năng lượng. Trục đứng là năng lượng của electron. Bên trái là mạng liên kết quen thuộc, và liên kết nào cũng đủ hai electron. Các electron đó có năng lượng nhỏ hơn electron tự do. Chúng nằm ở dải phía dưới, gọi là vùng hóa trị. Bạn nhìn các chấm vàng ở đây. Chúng cùng màu với electron trong liên kết. Vì mọi liên kết đều đủ, nên vùng hóa trị gần như đầy.
Trong tinh thể, các nguyên tử ở rất gần nhau nên mức năng lượng của electron hóa trị tách thành rất nhiều mức sát nhau, hợp thành một dải. Hình chỉ vẽ dải và độ đầy của nó, không vẽ từng mức.
Trục đứng là năng lượng của electron, lớn dần theo chiều đi lên. Trục này giữ nguyên ở mọi page của bài.
Hình mô tả trạng thái lý tưởng gần nhiệt độ rất thấp, nơi mọi liên kết đủ electron; ở nhiệt độ phòng chỉ có rất ít liên kết bị bẻ. Mạng là vị trí trong không gian, giản đồ là năng lượng; mỗi chấm chỉ là hình minh họa, không phải từng electron đếm được, và phép nối ① giữa hai hình chỉ mang tính minh họa.
Vùng dẫn
Electron tự do có năng lượng lớn hơn, nằm ở conduction band (vùng dẫn), có đáy là EC.
Mạng gần như không có electron tự do, nên vùng dẫn gần như trống.
Electron ở vùng dẫn → không thuộc liên kết nào → tự do.
Xem lời đọc
Electron tự do thì khác. Nó không còn bị giữ trong liên kết, nên có năng lượng lớn hơn. Những mức năng lượng ấy nằm ở dải phía trên, gọi là vùng dẫn. Mép dưới của dải này là đáy vùng dẫn. Bạn thấy vùng dẫn gần như trống, vì mạng bên trái hầu như không có electron tự do. Electron nào lên được vùng dẫn sẽ không thuộc liên kết nào nữa. Nó đi khắp tinh thể và có thể dẫn điện khi có điện trường.
EC là mức năng lượng nhỏ nhất của vùng dẫn; EV là mức năng lượng lớn nhất của vùng hóa trị.
Electron ở vùng dẫn có thể có năng lượng bất kỳ lớn hơn EC; phần chênh so với EC là động năng của nó.
Vùng cấm
band gap (vùng cấm) là khoảng năng lượng giữa EV và EC, nơi tinh thể hoàn hảo không có trạng thái nào cho electron.
Ở 300 K, độ rộng vùng cấm của silicon là Eg ≈ 1,12 eV.
Vùng cấm không có trạng thái → electron phải nhận đủ Eg mới lên vùng dẫn.
Xem lời đọc
Giữa hai dải là một khoảng năng lượng mà tinh thể hoàn hảo không cho electron có. Đó là vùng cấm. Ở ba trăm K, độ rộng vùng cấm của silicon là một phẩy mười hai eV. Bạn nhìn thước bên cạnh, nó đo từ đỉnh vùng hóa trị đến đáy vùng dẫn. Trong khoảng này không có trạng thái nào để electron đứng lại. Muốn lên vùng dẫn, electron phải nhận năng lượng ít nhất bằng độ rộng vùng cấm.
1 eV là năng lượng một electron nhận được khi đi qua hiệu điện thế 1 V. Giá trị 1,12 eV là của silicon ở 300 K và giảm nhẹ khi nhiệt độ tăng.
Eg là năng lượng đưa electron từ vùng hóa trị lên vùng dẫn của cả tinh thể, không đồng nhất với năng lượng bẻ một liên kết Si–Si riêng lẻ.
Bề mặt, tạp chất và khuyết tật có thể tạo trạng thái trong vùng cấm; giản đồ chỉ vẽ tinh thể hoàn hảo.
Sinh cặp trên giản đồ dải
Electron nhận đủ năng lượng từ nhiệt hoặc ánh sáng thì lên vùng dẫn, để lại một lỗ trống ở vùng hóa trị.
Ở mạng, một liên kết bị bẻ; trên giản đồ, một electron lên vùng dẫn. Đó là cùng một sự kiện.
Electron lên vùng dẫn → vùng hóa trị thiếu một electron → có lỗ trống.
Xem lời đọc
Giờ ta xem một sự kiện trên cả hai hình cùng lúc. Một electron nhận năng lượng từ nhiệt hoặc từ ánh sáng, ít nhất bằng độ rộng vùng cấm. Ở mạng, liên kết bị bẻ. Cũng lúc đó, trên giản đồ, chấm vàng nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn và thành chấm xanh. Chỗ nó vừa rời đi là vòng đỏ, một lỗ trống ở vùng hóa trị. Hai hình cho thấy cùng một sự kiện.
Năng lượng của electron lớn dần khi đi lên trên giản đồ. Với lỗ trống thì ngược lại: lỗ trống ở sâu bên dưới trong vùng hóa trị có năng lượng lớn hơn lỗ trống gần đỉnh.
Silicon có indirect band gap (vùng cấm gián tiếp), nên một photon cần thêm dao động của mạng để sinh cặp. Hình bỏ qua chi tiết này và chỉ giữ điều kiện về năng lượng. Electron lên vùng dẫn bằng một chuyển trạng thái tức thời, không dừng giữa vùng cấm.
Hạt tải của silicon tinh khiết
Ở 300 K, thang năng lượng nhiệt kT ≈ 0,026 eV; Eg cỡ 43 lần kT, nên rất ít electron lên được vùng dẫn.
Vùng hóa trị gần như đầy, vùng dẫn gần như trống.
Eg lớn so với kT → ít electron lên vùng dẫn → ít hạt tải.
Xem lời đọc
Vậy ở silicon tinh khiết, có nhiều electron lên vùng dẫn không? Ở ba trăm K, thang năng lượng nhiệt chỉ cỡ không phẩy không hai sáu eV. Độ rộng vùng cấm lớn gấp khoảng bốn mươi ba lần con số đó. Nên chỉ một phần rất nhỏ electron nhận đủ năng lượng. Bạn thấy vùng hóa trị gần như đầy, còn vùng dẫn gần như trống. Electron lên rồi lại xuống và tái hợp. Vì thế hạt tải ở silicon tinh khiết rất ít.
Xác suất một electron nhận năng lượng lớn gấp nhiều lần kT giảm theo hàm mũ, nên chỉ một phần rất nhỏ electron lên được vùng dẫn. Số hạt tải giảm theo hàm mũ khi tỉ số Eg/kT tăng.
Ở silicon, Eg/kT ≈ 43 cho nồng độ electron cỡ 1010 cm−3. Tính chính xác cần mật độ trạng thái và phân bố Fermi–Dirac. Số chấm trên hình chỉ minh họa.
Mức Fermi của silicon tinh khiết
Fermi level (mức Fermi) EF của silicon tinh khiết nằm gần giữa vùng cấm.
Mức Fermi chia các trạng thái thành hai nhóm: phía dưới gần như đầy, phía trên gần như trống.
Electron và lỗ trống cùng số → mức Fermi gần giữa vùng cấm.
Xem lời đọc
Còn một đường nữa trên giản đồ, đó là mức Fermi. Mức Fermi chia các trạng thái thành hai nhóm. Phía dưới gần như đầy electron, phía trên gần như trống. Ở silicon tinh khiết, số electron bằng số lỗ trống. Vì vậy mức Fermi nằm gần giữa vùng cấm. Nó gần như cách đều đáy vùng dẫn và đỉnh vùng hóa trị. Ngay tại đó không có trạng thái nào, nên đường này chỉ là mốc để ta đọc giản đồ.
Mức Fermi là mức năng lượng mà một trạng thái, nếu có, sẽ bị electron chiếm với xác suất một nửa. Ở silicon tinh khiết, mức này nằm trong vùng cấm, nơi không có trạng thái nào.
Mức Fermi lệch khỏi chính giữa vùng cấm cỡ 5–13 meV ở 300 K, hơi thấp hơn giữa vùng cấm (gần đỉnh vùng hóa trị hơn), do electron và lỗ trống có khối lượng hiệu dụng khác nhau. Hình vẽ ở giữa.